Hội Hướng đạo VN – Góp ý Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 từ thực tiễn.

Posted by LTDA on Tháng Hai 19, 2013

18-02-2013

tải xuống

Kính gởi: Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992
số 37 Hùng Vương, quận Ba Đình, Tp. Hà Nội.

Nhân đợt lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 từ ngày 2/1/2013 đến ngày 31/3/2013, tôi xin có ý kiến đóng góp Dự thảo sửa đổi HP 1992 từ thực tiễn mà Hội Hướng đạo Việt Nam đã trải qua như sau:

A. Tóm tắt vấn đề:
Phong trào Hướng đạo thế giới bắt nguồn từ Anh quốc, do Huân tước Baden Powell thành lập từ năm 1907 và được du nhập vào Việt Nam những năm trước 1930.
Khoảng tháng 9/1930, phong trào Hướng đạo bắt đầu phát triển tại VN do 2 huynh trưởng được coi là những người sáng lập ra Hướng đạo VN là các cụ Trần Văn Khắc và Hoàng Đạo Thúy.
Mục đích, nguyên lý của phong trào Hướng đạo là góp phần giáo dục bổ sung cho giáo dục của gia đình và học đường thông qua hệ thống Luật và Lời hứa Hướng đạo dưới các hình thức sinh hoạt ngoài trời, cắm trại, thám du…, nhằm huấn luyện các mặt đức, thể, thực và các kỹ năng sống cho thanh, thiếu niên bằng Phương pháp Hướng đạo, thường gọi là Phương pháp hàng đội tự trị (hoặc tự quản) để các em trở thành một con người khỏe mạnh có bản lãnh, có đạo đức tốt, có lòng trung thành với tổ quốc, làm tròn bổn phận công dân đối với quốc gia, đối với tín ngưỡng, tôn giáo của mình, có tinh thần dấn thân, giúp ích cho tha nhân, cho cộng đồng, xã hội.
Tôn chỉ của tổ chức Hướng đạo là không hoạt động và cổ động về mặt chính trị được ghi rõ trong điều lệ (quy trình) của hội.
Các thanh, thiếu niên không phân biệt giai cấp, chủng tộc và quốc tịch, khi đến tuổi từ 7 đến 12 đều có thể gia nhập các đoàn hoặc đơn vị Hướng đạo là Ấu đoàn (gọi là Ấu sinh hoặc Sói con), tuổi từ 11 đến 18 là Thiếu đoàn (gọi là Thiếu sinh) và tuổi từ 17 đến 25 là Tráng đoàn (gọi là Tráng sinh). Thời gian sinh hoạt của các em là vào những ngày nghỉ cuối tuần, ngày nghỉ lễ và nghỉ hè. Sau tuổi 25 các em trở thành những “cựu Hướng đạo sinh”. Riêng những ai muốn trở lại làm phụ trách, điều khiển các đoàn hoặc đơn vị Hướng đạo sẽ trở thành “huynh trưởng Hướng đạo” (hoặc Trưởng Hướng đạo). Những cựu Hướng đạo sinh khi trưởng thành, vào đời với tư cách công dân và có quyền tự do chọn cho mình con đường sự nghiệp và chính trị riêng trong khuôn khổ pháp luật quốc gia mà không còn bị ràng buộc bởi tôn chỉ của hội là không hoạt động và cổ động về mặt chính trị.
Sự ra đời của Hội Hướng đạo Việt Nam (HĐVN) có những điểm đặc biệt nói lên tính chất cao đẹp và hữu ích của tổ chức xã hội này đối với cộng đồng và quốc gia:
Năm 1945, khi Việt Nam giành được độc lập, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) ra đời cũng là lúc Hội Hướng đạo Việt Nam thống nhất cả nước, được chính thức cho phép hoạt động bởi Bộ nội vụ, do ông Đổng lý văn phòng Hoàng Minh Giám ký duyệt ngày 07/2/1946. Điểm đặc biệt là chỉ sau đó vài tháng, Chủ tịch Hồ Chí Minh của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã gởi văn bản vào ngày 31/5/1946 nhận lời làm Danh dự Hội trưởng của Hội HĐVN. Và điểm đặc biệt nữa là phải đến ngày 9/11/1946 thì Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới được ban hành và qui định tại Điều 10 là “Công dân Việt Nam có quyền: Tự do ngôn luận – Tự do xuất bản – Tự do tổ chức và hội họp…”. Như vậy, giấy phép thành lập hội của Hội HĐVN – là một tổ chức xã hội, đã được cấp 9 tháng trước khi HP 1946 ra đời, đã được Hiến pháp này bảo hộ quyền lập hội của Hội HĐVN tại Điều 10. Trong Hiến pháp 1946 chưa thấy có dòng nào ghi nhận vai trò hay quyền bính của Đảng Cộng sản Đông dương (tên của Đảng Cộng sản VN lúc bấy giờ) mà chỉ nêu rõ tại Điều 1:”Nước Việt Nam là nước dân chủ cộng hòa. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Lý do là vì có nhiều đảng chính trị cùng tham gia trong Chính phủ VN đầu tiên, cùng xây dựng Hiến pháp VN đầu tiên. Như vậy, Hội HĐVN đã được chính thức hoạt động “trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” kể từ khi Chính phủ VN đầu tiên được thành lập, từ khi Hiến pháp đầu tiên 1946 ban hành và có vinh dự được Chủ tịch nước VNDCCH nhận làm Danh dự Hội trưởng. Đảng Cộng sản Đông dương lúc bấy giờ chưa được Hiến pháp 1946 ghi nhận và cũng chưa được Chính phủ VNDCCH ký duyệt công nhận là một tổ chức chính trị. Các đảng chính trị khác cũng đều như thế.
Năm 1954, khi Hiệp định Genève được ký kết, đã phân chia nước VNDCCH làm 2 quốc gia: một quốc gia VNDCCH ở phía bắc vĩ tuyến 17, còn ở phía nam là một quốc gia VN thứ 2 mới hình thành là Việt Nam Cộng hòa (từ 1955), thì lúc bấy giờ, Hội HĐVN mới được thống nhất vào năm 1946 cũng bị phân chia làm 2 hội: một Hội HĐVN ở miền bắc vẫn hoạt động như cũ và một Hội HĐVN mới được thành lập ở miền nam theo qui định tại Nghị định số 326 NĐTN ngày 09/2/1953 được ban hành bởi Chính quyền Bảo Đại. Năm 1957 Hội HĐVN ở miền nam được gia nhập làm hội viên của Tổ chức Thế giới Phong trào Hướng đạo (viết tắt tiếng Anh là WOSM). Tính đến ngày 31/12/1974 Hội HĐVN ở miền nam có 14.432 Hướng đạo sinh đóng bảo hiểm, trong đó có 2.204 huynh trưởng. Hai Hội HĐVN ở 2 quốc gia VN được công nhận theo công pháp quốc tế và cả 2 Hội HĐVN đều có tư cách pháp nhân riêng theo qui định của pháp luật quốc gia mình.
Năm 1957, tức là sau 11 năm kể từ khi “Quyền tự do tổ chức và hội họp” được qui định tại Điều 10 Hiếp pháp 1946, thì Chủ tịch nước VNDCCH mới ban hành một sắc lệnh gọi là “Sắc lệnh Luật số 102-SL/L-004 ngày 20/5/1957 Quy định quyền lập hội”. Trong Sắc lệnh Luật này chỉ quy định 12 điều có tính nguyên tắc mà tại Điều 12 ghi rằng “Chính phủ quy định những chi tiết thi hành luật này”, tức là vẫn phải chờ Chính phủ ban hành Nghị định về “Thể lệ lập hội” như đã ghi tại Điều 3 của Sắc lệnh Luật này thì công dân VN mới có thể xin phép lập hội. Cũng trong năm 1957, Hội HĐVN ở miền bắc đã được mời gia nhập Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam với tư cách là đồng sáng lập và là thành viên tập thể theo Điều lệ của Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam. Từ đó, Hội HĐVN ở miền bắc vẫn luôn giữ tư cách pháp nhân riêng và có cử đại biểu tham dự đại hội của Hội Liên hiệp Thanh niên VN thường kỳ (lần thứ 1 năm 1957 và lần thứ 2 năm 1961). Năm 1965 Hội HĐVN ở miền bắc đã gởi thư cho các Hướng đạo sinh Hội HĐVN ở miền nam, thư có đóng dấu Bộ Tổng ủy viên Hội HĐVN do huynh trưởng Trần Ngọc Chu thay mặt ký ngày 5/2/1965. Bức thư này vẫn còn được lưu giữ như một kỷ vật, một chứng cứ pháp lý.
Hiến pháp ngày 31/12/1959 có nói đến vai trò của Đảng Cộng sản VN trong Lời nói đầu của Hiến pháp như sau:
– “Từ năm 1930, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, ngày nay là Đảng Lao động Việt Nam, cách mạng Việt Nam đã tiến lên một giai đoạn mới…”
– “Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Lao động Việt Nam, Chính phủ nước VNDCCH và Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn dân ta đoàn kết rộng rãi trong Mặt trận thống nhất, nhất định sẽ giành được những thắng lợi vẻ vang…”
Hiến pháp 1959 ghi nhận sự lãnh đạo cách mạng VN trong quá khứ của Đảng CS Đông Dương, nay là Đảng Lao động VN và nêu quyết tâm đoàn kết của Đảng cùng Mặt trận thống nhất (bao gồm các đảng chính trị khác) trong tương lai để tiếp tục giành được những thắng lợi vẻ vang cho nhân dân VN.
Điều 25 Hiến pháp 1959 qui định quyền lập hội như sau: “Công dân nước VNDCCH có các quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, lập hội, và biểu tình. Nhà nước đảm bảo những điều kiện vật chất cần thiết để công dân được hưởng các quyền đó”.
Tuy Điều 25 Hiến pháp 1959 có qui định thêm: Nhà nước đảm bảo những điều kiện vật chất để công dân được hưởng quyền tự do lập hội và hội họp vốn đã có từ Hiến pháp 1946 nhưng vì Chính phủ vẫn chưa ban hành Nghị định về “Thể lệ lập hội” theo Sắc lệnh Luật số 102-SL/L-004 ngày 20/5/1957 nên quyền tự do lập hội của công dân VN vẫn chưa thể thực hiện được “trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” kể từ ngày giành được độc lập, thoát khỏi sự đô hộ của thực dân Pháp – thời gian chờ đợi là 14 năm. Nhưng đặc biệt là chỉ có Hướng đạo VN vào thời điểm năm 1959, do hoàn cảnh lịch sử, có đến 2 Hội HĐVN hoạt động hợp pháp, có đủ tư cách pháp nhân theo pháp luật của 2 quốc gia VN ở 2 miền nam, bắc. Riêng Hội HĐVN ở miền nam được gia nhập làm thành viên chính thức của Tổ chức Thế giới Phong trào Hướng đạo (WOSM) vào năm 1957.
Hiến pháp ngày 18/12/1980 được ban hành sau khi Việt Nam thống nhất một lần nữa và một tên nước mới “Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” ra đời.
Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản lần đầu tiên được “Hiến pháp hóa” tại Điều 4 Hiến pháp 1980 như sau: “Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong và bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân VN, được vũ trang bằng học thuyết Mác-Lênin, là lực lượng duy nhất lãnh đạo đất nước, lãnh đạo xã hội, là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng VN. Các tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp”. Hiến pháp 1980 cũng có qui định quyền tự do lập hội tại Điều 67 như sau: “Công dân có các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập hội, tự do biểu tình, phù hợp với lợi ích của chủ nghĩa xã hội và của nhân dân…”. Tuy Hiến pháp 1980 cũng có qui định quyền tự do lập hội của công dân như trong Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1959 nhưng vì Chính phủ vẫn chưa ban hành Nghị định về “Thể lệ lập hội” nên trong thực tế công dân VN vẫn chưa thực thi được quyền lập hội của mình ở một nước VN thống nhất kể từ ngày giành được độc lập, thoát khỏi sự đô hộ của thực dân Pháp – thời gian chờ đợi là 35 năm. Còn đối với yêu cầu thành lập một Hội HĐVN thống nhất sau năm 1975 của Hướng đạo sinh 2 hội HĐVN trước đó vẫn chưa thể thực hiện được vì lý do tương tự là chưa có “Thể lệ lập hội” do Chính phủ ban hành.
Điều 4 Hiến pháp 1980 cũng đã “Tuyệt đối hóa” quyền hành của Đảng CS khi qui định: “Đảng CS VN … là lực lượng duy nhất lãnh đạo đất nước, lãnh đạo xã hội…” – nên dẫn đến hệ quả là 2 đảng chính trị đã từng đứng trong hàng ngũ cách mạng VN trước kia với đảng Cộng sản là đảng Xã hội và đảng Dân chủ phải giải thể vào năm 1988. Và với qui định: “Các tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp” cũng mặc định rằng chỉ có Hiến pháp mới là “khuôn khổ” dành cho Đảng chớ các văn bản pháp luật khác không phải là Hiến pháp, dưới Hiến pháp, không thể điều chỉnh các tổ chức Đảng CSVN.
Hiến pháp ngày 15/4/1992 (sửa đổi bổ sung 2001) lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ pháp lý “Nhà nước pháp quyền” khi qui định tại Điều 2: “Nhà nước CHXHCNVN là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”. Nhà nước pháp quyền với định nghĩa căn bản nhất là không có ai ở trên pháp luật hay mọi người phải tuân theo pháp luật. Hệ quả từ qui định về “Nhà nước pháp quyền” tại Điều 2 Hiến pháp đã dẫn tới sự sửa đổi Điều 4: “Đảng CS VN, đội tiên phong của giai cấp công nhân VN, đại biểu trung thành của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng (bỏ 2 từ duy nhất) lãnh đạo nhà nước và xã hội”. Sửa đổi bỏ 2 từ “duy nhất” vì không còn cần thiết trong thực tế sau khi 2 đảng Xã hội và Dân chủ giải thể năm 1988, chỉ còn mỗi đảng Cộng sản. Và từ khái niệm pháp lý về “Nhà nước pháp quyền” bao gồm cả Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác nên đã có sự bổ sung 2 từ “pháp luật” tại Điều 4 như sau: “Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Tuy nhiên, trong khi hầu hết các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân… đều đã lần lượt có các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình được ban hành để tạo ra một hệ thống “khuôn khổ pháp luật” quốc gia thì Quốc hội – cho đến nay, vẫn chưa ban hành luật về hoạt động, về sự lãnh đạo của tổ chức chính trị là Đảng Cộng sản VN để Đảng phải chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước pháp luật, để Đảng có một “khuôn khổ pháp luật” riêng cho nhân dân giám sát dựa trên nguyên tắc “không có ai ở trên pháp luật, mọi người đều phải tuân theo pháp luật” trong một “Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”.
Hiến pháp 1992 (sửa đổi bổ sung 2001) vẫn qui định quyền lập hội tại Điều 69: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin, có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo qui định của pháp luật”. Thế nhưng, trong thực tế vẫn chưa có nghị định của Chính phủ ban hành “Thể lệ lập hội” nên công dân VN vẫn chưa thể thực thi quyền lập hội của mình từ khi giành được độc lập từ thực dân Pháp – thời gian chờ đợi là 56 năm tính từ 1945 đến 2001. Trong hoàn cảnh không có nghị định của Chính phủ về “Thể lệ lập hội” để các huynh trưởng HĐVN ở 2 Hội HĐVN trước đây xin phép thành lập một Hội HĐVN thống nhất trên cả nước thì các đơn vị Hướng đạo cũ và mới phải “sinh hoạt chui” một cách tự phát, thiếu tổ chức, gây mất đoàn kết nội bộ. Từ yêu cầu khách quan lẫn chủ quan về việc tái lập một Hội HĐVN thống nhất trên cả nước trong khi Chính phủ chưa ban hành “Thể lệ lập hội” nên các huynh trưởng HĐVN đã gởi đơn, thư, kiến nghị … đến các vị lãnh đạo cao cấp của Đảng CS và Nhà nước VN để vận động, xin được phép tái lập Hội HĐVN thống nhất như đã từng được “đặc cách” cho phép của Bộ Nội vụ vào ngày 7/2/1946 khi nước VNDCCH chưa ban hành bất cứ “khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” nào.
Ngày 30/7/2003 là một ngày rất đáng nhớ đối với mọi người VN, nhưng đặc biệt là đối với các Hướng đạo sinh Việt Nam, bởi vì đó là ngày Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 88/2003/NĐ-CP Quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội. Phải mất 58 năm chờ đợi kể từ ngày nhân dân VN giành độc lập từ thực dân Pháp, Chính phủ Việt Nam mới ban hành “Thể lệ lập hội” để người dân VN thực thi quyền lập hội đã được ghi vào 4 bản Hiến pháp (1946, 1959, 1980, 1992) và 1 lần sửa đổi Hiến pháp (2001). Trước ngày Nghị định số 88/2003/NĐ-CP được ban hành các huynh trưởng HĐVN đã gởi 10 đơn, thư, kiến nghị đến các vị lãnh đạo Đảng CS và Nhà nước VN để vận động, xin phép tái lập Hội HĐVN nhưng đều không nhận được trả lời. Xin được liệt kê các đơn, thư, kiến nghị đó:
– Trưởng Trần Hữu Khuê đã gởi đến các vị lãnh đạo Đảng, Quốc hội và Nhà nước tổng cộng 6 văn bản vào các ngày: 18/11/1988, 6/4/1989, 14/10/1992, 28/3/1996, 8/8/1997, 1/7/2000.
– Trưởng Nguyễn Dực thay mặt 20 Trưởng Hướng đạo gởi đơn ngày 3/3/1993
– Trưởng Bạch Văn Quế gởi thư ngày 22/4/1997
– Trưởng Nguyễn Phước Hoàng (Tôn Thất Hoàng) gởi thư ngày 18/8/1997
– Trưởng Nguyễn Phúc Quỳnh Hòe gởi thư ngày 18/3/2000.
Trong khi các huynh trưởng HĐVN hân hoan đón nhận sự ban hành Nghị định số 88/2003/NĐ-CP ngày 30/7/2003 của Chính phủ VN – như một cơ hội mở ra cho khao khát tái lập Hội HĐVN thống nhất và trong khi đang có sự chuẩn bị xúc tiến thủ tục xin phép theo qui định của Nghị định thì một Thông báo được Ban Bí thư Trung ương của Đảng CS VN đưa ra ngay sau ngày ban hành Nghị định Chính phủ gần 9 tháng đã dập tắt những hy vọng tái lập hội của tất cả Hướng đạo sinh VN.
Ngày 20/4/2004 Thông báo số 143-TB/TW của Ban Bí thư Trung ương đã “Giao cho Ban Dân vận Trung ương chủ trì, phối hợp với Mặt trận Tổ quốc VN, Bộ Nội vụ, các đoàn thể, ban ngành có liên quan và cấp ủy của các địa phương có các tổ chức Hướng đạo đang hoạt động chuẩn bị đề án giải quyết vấn đề này…”. Giải quyết vấn đề này theo Thông báo số 143-TB/TW là: “Không đặt vấn đề tái lập tổ chức hướng đạo, cũng như tránh lập thêm các hội, đoàn mới”.
Ngày 20/5/2008 Thông báo số 157-TB/TW của Ban Bí thư Trung ương tiếp tục chỉ đạo cho “Các cấp ủy đảng, chính quyền các cấp, các đoàn thể quần chúng nhân dân…” có kế hoạch, giải pháp cụ thể thực hiện Thông báo số 143-TB/TW.
Ngày 20/4/2009 Kế hoạch số 47-KH/TU của Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh “Thực hiện Thông báo số 157-TB/TW ngày 20/5/2008 của Ban Bí thư Trung ương” đã chỉ đạo các cấp ủy, cơ quan, ban ngành, đoàn thể địa phương thực hiện nhiều hình thức “tuyên truyền, vận động, giáo dục, đấu tranh” nhằm ngăn chận, không cho các đối tượng “tham gia hoạt động Hướng đạo theo tinh thần Thông báo số 157-TB/TW”.
Ngày 4/12/2010 Hội Hướng đạo các quốc gia thuộc khối ASEAN (tên tiếng Anh là ASEAN Scout Association For Regional Co-operation = ASARC) được thành lập. Hướng đạo VN đã tham gia “đồng sáng lập” và cùng ký tên trên Hiến chương của ASARC với tư cách là Quan sát viên (Observer) cùng với các Hội Hướng đạo của 7 quốc gia khác là Singapore, Malaysia, Cambodia, Thailand, Brunei, Indonesia và Philippines. Hai nước chưa tham gia ASARC là Myanmar và Lào. Người đại diện cho Hướng đạo Việt Nam ký tên trên Hiến chương của ASARC ngày 4/12/2010 là Trưởng Phạm Thanh Hiệp ở Tp. Hồ Chí Minh.
Cũng theo tường thuật của báo New Light tại Myanmar thì Chính quyền Myanmar đã gỡ bỏ lệnh cấm 50 năm qua cho Phong trào Hướng đạo và hiện khuyến khích các trẻ em tham gia Hội Hướng đạo (theo tin tức phổ biến hôm 7/1/2013). Ông Tin Nyo, cựu Bộ trưởng Bộ giáo dục, Chủ tịch Ủy ban Giám sát Hướng đạo nói rằng các Hướng đạo sinh đã được hình thành toàn cõi quốc gia trong hệ thống các trường học. Hội đoàn đã chính thức loan tải hôm 1/1/2013 có 1.800 hội viên (www.giupich.org). Hiện nay, đã có 156 nước có Hội Hướng đạo là hội viên chính thức của Tổ chức Thế giới Phong trào Hướng đạo (WOSM) và khoảng 200 quốc gia, vùng, lãnh thổ có phong trào Hướng đạo sinh hoạt.
Ngày 17/5/2011 Văn bản số 1507/BVHTTDL-TCCB của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch khi trả lời bác đơn xin phục hồi Hội HĐVN của Trưởng Đặng Văn Việt đã viện dẫn Thông báo của Ban Bí thư Trung ương như là căn cứ pháp lý của cơ quan hành chính nhà nước này: “Ban Bí thư Trung ương Đảng đã có thông báo về hoạt động hướng đạo hiện nay tại một số tỉnh, thành phố và chỉ rõ ‘không đặt vấn đề tái lập tổ chức hướng đạo, cũng như thành lập thêm các hội, đoàn mới’…”
Ngày 18/10/2012 Trưởng Phạm Thanh Hiệp cùng với 4 huynh trưởng Hướng đạo khác (cho đủ số lượng theo qui định) đã làm Đơn xin công nhận ban vận động thành lập Hội Hướng đạo sinh Thành phố Hồ Chí Minh theo qui định của pháp luật.
Ngày 8/11/2012 Sở Nội vụ Thành phố Hồ Chí Minh đã nhận đơn của Trưởng Phạm Thanh Hiệp, cấp biên nhận theo đúng thủ tục qui định của Nghị định Chính phủ (mới sửa đổi) số 45/2010/NĐ-CP ngày 21/4/2010 Quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội. Tuy nhiên thời gian qui định tại Nghị định 45/2010/NĐ-CP ngày 21/4/2010 Điểm d, Khoản 5, Điều 6 là: “Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận hồ sơ đầy đủ, hợp pháp, cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại các điểm a, b và c khoản 5 Điều này có trách nhiệm xem xét, quyết định công nhận ban vận động thành lập hội; trường hợp không đồng ý phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do”. Thời hạn 30 ngày đã qua mà Sở Nội vụ Tp.Hồ Chí Minh vẫn chưa cấp quyết định công nhận ban vận động thành lập Hội Hướng đạo sinh Tp.HCM hoặc có văn bản không đồng ý trả lời đơn của Trưởng Phạm Thanh Hiệp.

B. Biện luận:
Xin nêu một số nhận xét như sau:
1/ Trước hết là về lý do thứ nhất mà Thông báo số 143-TB/TW ngày 20/4/2004 nêu ra để ngăn cấm, không cho đặt vấn đề tái lập tổ chức Hướng đạo: Văn bản này của Ban Bí thư TW nói rằng: “Từ sau kháng chiến chống Pháp, ở miền Bắc tổ chức hướng đạo đã ngừng hoạt động và gia nhập Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam”, và đây là lý do khách quan để Ban Bí thư TW sử dụng làm căn cứ không cho đặt vấn đề tái lập Hội HĐVN. Xin được phân tích lý do mà Ban Bí thư TW đã nêu:
– “đã ngừng hoạt động”: Văn bản của BBT/TW sử dụng cụm từ “đã ngừng hoạt động” của tổ chức hướng đạo ở miền Bắc để mô tả về trường hợp mà Bộ luật dân sự gọi là “chấm dứt pháp nhân” (Điều 99 BLDS). Tuy nhiên, văn bản của BBT/TW đã không đưa ra được bất cứ chứng cứ hay căn cứ pháp lý nào để chứng minh rằng Hội HĐVN ở miền Bắc đã “ngưng hoạt động” hoặc “chấm dứt pháp nhân” từ sau kháng chiến chống Pháp. Ngược lại, có nhiều chứng cứ và căn cứ pháp lý mà các huynh trưởng Hướng đạo còn lưu giữ đã chứng minh rằng Hội HĐVN ở miền Bắc vẫn tồn tại và hoạt động hợp pháp ít nhất là đến năm 1965 – ví dụ như lá thư có đóng dấu Bộ Tổng ủy viên Hội HĐVN do huynh trưởng Trần Ngọc Chu ký ngày 5/2/1965 còn được lưu giữ.
– “gia nhập Hội LHTNVN”: Văn bản của BBT/TW cũng nói rằng Hội HĐVN ở miền Bắc đã gia nhập Hội LHTNVN vào năm 1957 để chứng minh rằng tổ chức này đã “chấm dứt pháp nhân”. Tuy nhiên, nếu tác giả văn bản cho rằng một pháp nhân như Hội HĐVN sau khi “gia nhập” Hội LHTNVN là không còn tồn tại, là đã “chấm dứt pháp nhân” của tổ chức đó thì đây là một sự nhầm lẫn tai hại. Bởi vì, theo pháp luật dân sự của VN thì pháp nhân chỉ chấm dứt trong các trường hợp: hợp nhất, sáp nhập, chia, giải thể pháp nhân hoặc bị tuyên bố phá sản theo pháp luật về phá sản (Điều 99 BLDS). Sự nhầm lẫn, sự hiểu sai trong văn bản của BBT/TW là ở chỗ tưởng rằng “gia nhập” là đồng nghĩa với “sáp nhập”.
Vì vậy, với lý do thứ nhất mà văn bản của BBT/TW nêu, đã không dựa vào một chứng cứ hay căn cứ pháp lý nào để đưa ra lệnh cấm “không cho đặt vấn đề tái lập tổ chức hướng đạo”, lý do thứ nhất đó là hoàn toàn vô căn cứ.

2/ Về lý do thứ hai mà Thông báo số 143-TB/TW ngày 20/4/2004 nêu ra để ngăn cấm, không cho đặt vấn đề tái lập tổ chức Hướng đạo là: “Nếu chính thức cho tái lập thêm tổ chức hướng đạo thì sẽ dẫn đến tranh giành lực lượng, tranh giành quần chúng giữa hướng đạo với các tổ chức đã có và tạo ra tiền lệ đa nguyên trong tổ chức quần chúng, làm phức tạp thêm tình hình chính trị xã hội. Nếu tổ chức hướng đạo được tái lập, các hội đoàn khác như Gia đình Phật tử, Tịnh độ cư sĩ … cũng đòi hỏi được công nhận thì sẽ rất phức tạp”. Đây là lý do hoàn toàn mang tính chủ quan của tác giả Thông báo 143 chớ không hề dựa trên căn cứ pháp lý nào:
– “tạo ra tiền lệ đa nguyên trong tổ chức quần chúng”: Câu chữ này thể hiện ý chí của Đảng CS VN, sau khi đã “Hiến pháp hóa” và Tuyệt đối hóa” sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước và xã hội, thì qua Thông báo 143, Ban Bí thư TW còn thể hiện ý chí không muốn “tạo ra tiền lệ đa nguyên trong tổ chức quần chúng”; tức là BBT/TW muốn “Tuyệt đối hóa” các tổ chức đã có – tức là chỉ tồn tại Hội LHTNVN, Đoàn TNCSHCM, Đội TNTP là các tổ chức đã có. Nói cách khác, mặc dù Hiến pháp, Sắc lệnh Luật và Nghị định về quyền tự do lập hội của công dân đã được ban hành nhưng Ban Bí thư TW muốn “tránh lập thêm các hội, đoàn mới” nên ra “lệnh cấm” tái lập tổ chức Hướng đạo bằng Thông báo 143 với lý do không muốn tạo ra tiền lệ đa nguyên trong tổ chức quần chúng.
– “sẽ dẫn đến tranh giành lực lượng, tranh giành quần chúng giữa hướng đạo với các tổ chức đã có”: Mối lo này của Ban Bí thư TW trong thực tế như thế nào ? Có thể khẳng định đó là một mối lo hoàn toàn không có căn cứ vì các lý do sau: Một là theo tôn chỉ của tổ chức Hướng đạo VN (và cả WOSM) đã được ghi rõ trong quy trình (Điều lệ) là “Hội HĐVN không hoạt động và cổ động về mặt chính trị” nên tổ chức HĐ không tranh giành các thanh thiếu niên đã được Đội, Đoàn kết nạp và rèn luyện trở thành một đảng viên của Đảng CS trong tương lai. Hai là hiện nay, số lượng đoàn viên Đoàn TN CS HCM trong cả nước có khoảng trên 6.000.000 em, trong khi đó số lượng hướng đạo sinh (kể cả các huynh trưởng) đang có trong cả nước chỉ khoảng 6.000 người nên không thể có sự “tranh giành” trong tương quan lực lượng theo tỉ lệ 1 hướng đạo sinh với 1.000 đoàn viên. Đó là chưa tính đến số lượng hiện có trên 3.000.000 đảng viên Đảng CS mà Đoàn TN CS HCM là lực lượng hậu bị của Đảng. Hơn nữa, trong số các huynh trưởng HĐ đang sinh hoạt vẫn có nhiều người là đảng viên Đảng CS, điều đó mặc nhiên thừa nhận là Đảng CS vẫn có thể đưa các đảng viên vào tổ chức HĐ để “lãnh đạo tổ chức xã hội” này như đã ghi trong Điều 4 Hiến pháp. Một khi không có căn cứ, chứng cứ pháp lý nào về một sự “tranh giành quần chúng” như thế của Hội HĐVN thì điều viện dẫn trong văn bản của BBT/TW chỉ nhằm tạo cớ cho một lệnh cấm vi phạm Hiến pháp và pháp luật mà thôi.
Vì vậy, với lý do thứ hai mà văn bản của BBT/TW nêu ra chỉ là một mối lo không hề có trong thực tế nhưng điều đó đã thể hiện ý chí chủ quan của Ban Bí thư/TW, bất chấp đến quyền tự do lập hội của các Hướng đạo sinh VN đã được Hiến pháp, Sắc lệnh Luật và Nghị định Chính phủ VN bảo hộ, lý do thứ hai nêu trên là hoàn toàn không có căn cứ.

3/ Nhận xét thứ ba xin được đề cập đến “lời khen” của BBT/TW dành cho tổ chức Hướng đạo trong văn bản tiếp theo là Thông báo số 157-TB/TW ngày 20/5/2008. Lời khen này trong Thông báo là một sự thừa nhận chính thức của Đảng CS VN từ trước tới nay dành cho tổ chức xã hội là Hội HĐVN, một tổ chức đã từng có vị Danh dự Hội trưởng đầu tiên lại chính là người sáng lập ra Đảng CS VN. Lời khen đó ghi cụ thể như sau: “Đoàn Thanh niên CS HCM và Hội Liên hiệp TN VN phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo nghiên cứu, đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục, rèn luyện thanh niên, thiếu niên, nhi đồng; tiếp thu có chọn lọc hình thức, phương pháp của hướng đạo trong giáo dục và tổ chức hoạt động của thanh thiếu niên; đáp ứng tốt hơn nhu cầu đa dạng, chính đáng về sinh hoạt vui chơi, giải trí lành mạnh, bổ ích, thu hút thế hệ trẻ tham gia vào các hoạt động của tổ chức đoàn, hội, đội”. Lời khen dành cho một phong trào quốc tế tồn tại theo thời gian trên 100 năm và rộng khắp trên 200 quốc gia, vùng, lãnh thổ thì không phải là điều gì lạ lùng. Nhưng “Hướng đạo không chỉ là kỹ năng, Hướng đạo là phong trào giáo dục” và đó mới là mục đích của Hướng đạo. Điều làm nên sự khác biệt và là tinh túy của Hướng đạo chính là ở phần nguyên lý được thể hiện trong Lời hứa và Luật Hướng đạo. Xin được nêu phần chính yếu của nguyên lý đó: Một là “Tôi xin đem danh dự hứa sẽ cố gắng hết sức để giúp đỡ mọi người không cứ lúc nào” – đây là một phần Lời hứa của Hướng đạo sinh, là lời tự tuyên hứa khi được làm Hướng đạo sinh phải có bổn phận đối với tha nhân (Duty to others); Hai là “Hướng đạo sinh trong sạch từ tư tưởng, lời nói đến việc làm” – đây là Điều luật thứ 10 của Luật Hướng đạo, Hướng đạo sinh phải biết tự rèn luyện, phải có bổn phận đối với bản thân (Duty to self). Cùng với Điều luật thứ 4: “Hướng đạo sinh là bạn với tất cả mọi người…”, phong trào Hướng đạo từ khi xuất hiện ở VN vào những năm 1930 cho đến nay, không có bất cứ tổ chức nào coi Hội HĐVN là đối thủ “tranh giành lực lượng, tranh giành quần chúng” với họ cả. Trên 80 năm qua, HĐVN vẫn giữ đúng những nguyên lý và mục đích của mình, không có gì thay đổi. Trong khi đó, Đảng CS VN cũng ra đời vào những năm 1930 đã biến đổi nhanh chóng theo thời cuộc: Từ Điều lệ Đảng năm 1935: “Đảng Cộng sản Đông dương, đội tiền phong duy nhất của vô sản giai cấp, tranh đấu để thu phục đa số quần chúng vô sản, lãnh đạo nông dân lao động và tất thảy quần chúng lao động khác…”, cho đến khi Đảng CS cầm quyền để “Hiến pháp hóa” và “Tuyệt đối hóa” quyền lực của Đảng thành “lực lượng duy nhất lãnh đạo đất nước, lãnh đạo xã hội”, rồi cho đến khi Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X (từ 24/7 đến 29/7/2006) đã thông qua “Quy định đảng viên làm kinh tế tư nhân”, và rồi đến Báo cáo của Ban chấp hành Trung ương khóa X về các văn kiện Đại hội XI ngày 12/1/2011: “Tiếp tục thực hiện chủ trương đảng viên làm kinh tế tư nhân, thực hiện thí điểm việc kết nạp những người là chủ doanh nghiệp tư nhân đủ tiêu chuẩn vào Đảng” … đã cho thấy quan điểm, cái nhìn của Đảng đối với đảng viên, đối với quần chúng ngoài Đảng, nhất là đối với thành phần gọi là “tư bản” trước đây đã có nhiều thay đổi. Đảng viên cộng sản và nhà tư sản giờ đây đã có thể là “2 trong 1″. Vậy thì một Hướng đạo sinh “không hoạt động và cổ động về mặt chính trị”, phải luôn giữ “trong sạch từ tư tưởng, lời nói đến việc làm” và phải cố gắng hết sức “giúp đỡ mọi người không cứ lúc nào”, không hề có mục tiêu quyền lực và tài lực thì làm sao lại có thể là mối lo của Đảng, là đối thủ “tranh giành lực lượng, tranh giành quần chúng” với Đội, Đoàn, Hội và Đảng CSVN (?).

Tóm lại, căn cứ vào các Hiến pháp qua các thời kỳ và căn cứ vào Sắc lệnh Luật số 102-SL/L-004 ngày 20/5/1957 Quy định quyền lập hội thì việc công dân VN đã không thể thực thi được quyền tự do lập hội kể từ khi nước nhà giành được độc lập năm 1945 cho đến khi Chính phủ ban hành Nghị định số 88/2003/NĐ-CP ngày 30/7/2003 Quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội – tức là trong 58 năm, là thuộc về trách nhiệm của Đảng Cộng sản VN, đảng cầm quyền. Riêng đối với quyền lập hội (hoặc tái lập hội) của Hướng đạo sinh VN đã bị ngăn cản, bị vi phạm là do các văn bản của Ban Bí thư/TW và của Thành ủy Tp.Hồ Chí Minh. Các văn bản của các tổ chức Đảng này có hiệu lực còn mạnh mẽ hơn cả một bản án của tòa án khi đã huy động tất cả các cơ quan, ban ngành, đoàn thể cùng ngăn cản các sinh hoạt lành mạnh, hợp pháp của các Hướng đạo sinh và đã ngăn cấm việc các huynh trưởng Hướng đạo xin phép lập hội theo qui định của pháp luật. Có thể nêu ví dụ về trường hợp văn bản số 1507/BVHTTDL-TCCB ngày 17/5/2011 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch khi trả lời đơn xin tái lập Hội HĐVN của Trưởng Đặng Văn Việt đã viện dẫn Thông báo số 143-TB/TW ngày 20/4/2004 của Ban Bí thư TW chớ không cần biết đến “khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” về quyền tự do lập hội. Đối với Bộ VHTT&DL thì văn bản của Ban Bí thư TW còn đứng trên cả Hiến pháp và pháp luật. Còn đối với những Hướng đạo sinh VN có nguyện vọng tái lập Hội HĐVN thì văn bản của BBT/TW đã có tác động còn mạnh hơn cả bản án của tòa án và gây tác hại vô cùng to lớn đối với quyền và lợi ích hợp pháp của các Hướng đạo sinh VN. Nếu tập họp tất cả những sự khốn khó mà các Hướng đạo sinh VN phải gánh chịu trong thời gian qua vì phải “sinh hoạt chui” trong điều kiện bị ngăn cấm bởi các văn bản của tổ chức Đảng CSVN thì có thể làm thành một hồ sơ rất dày. Chỉ xin đơn cử trường hợp gần đây nhất: Một cuộc họp bạn Hướng đạo ngành Tráng theo truyền thống được tổ chức tại Vườn quốc gia Bidoup, Núi Bà, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng từ ngày 28 đến 31/12/2012. Một hợp đồng du lịch sinh thái đã được các huynh trưởng HĐ ký với Ban giám đốc Vườn quốc gia Bidoup và đã đăng ký trước toàn bộ nội dung chương trình họp bạn và danh sách của 562 Hướng đạo sinh tham dự với chính quyền các cấp. Thế nhưng, những huynh trưởng tổ chức trại họp bạn đã phải “làm việc” trước ngày khai mạc trại đến 9 lần với các cơ quan Công an huyện, CA tỉnh, Ban Dân vận …, phải cắt bỏ nhiều hình thức sinh hoạt truyền thống, chấp hành việc không được mặc đồng phục Hướng đạo và “cùng ăn, cùng ngủ, cùng chơi” với 12 người khách lạ được cử xuống sinh hoạt chung suốt thời gian họp trại.
Các văn bản của các tổ chức Đảng CSVN như Thông báo số 143-TB/TW ngày 20/4/2004, Thông báo số 157-TB/TW ngày 20/5/2008 của Ban Bí thư Trung ương và Kế hoạch số 47-KH/TU ngày 20/4/2009 của Thành ủy Tp.Hồ Chí Minh đều vi phạm quyền tự do lập hội của các Hướng đạo sinh VN vốn là tổ chức xã hội đã từng được phép hoạt động hợp pháp và chưa hề chấm dứt pháp nhân kể từ ngày có phép. Các văn bản của tổ chức Đảng khi ngăn cấm việc xin phép tái lập hội theo đúng qui định của “Hiến pháp và pháp luật” hiện hành là đã có sự vi phạm Hiến pháp, vi phạm Sắc lệnh Luật và vi phạm Nghị định Chính phủ quy định quyền tự do lập hội của công dân, của các Hướng đạo sinh VN. Tuy nhiên, vì từ trước đến nay vẫn chưa có qui định về một cơ chế xử lý việc vi phạm Hiến pháp của các văn bản tổ chức Đảng CSVN, vì chưa có luật về đảng chính trị do Quốc hội ban hành nên sự vi phạm Hiến pháp và pháp luật của các văn bản tổ chức Đảng đã gây tác hại nghiêm trọng cho quyền và lợi ích hợp pháp của Hướng đạo sinh VN và Hội HĐVN trong một thời gian rất dài mà những người bị thiệt hại không biết kêu vào đâu. Nếu Hiến pháp có qui định một Tòa án Hiến pháp để công dân VN, các Hướng đạo sinh VN đưa yêu cầu kiểm tra tính hợp hiến của các văn bản tổ chức Đảng đã ra lệnh cấm việc tái lập hội của công dân, của các Hướng đạo sinh thì việc “Đảng chịu sự giám sát của nhân dân” ghi trong Hiến pháp mới có thể thực hiện được, cơ hội đòi công lý và sự công bằng của Hội HĐVN trước các cơ quan thẩm quyền mới thành hiện thực. Trong khi Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 chưa qui định về một Tòa án Hiến pháp và trong khi Quốc hội chưa ban hành luật về đảng chính trị mà chỉ mới có sửa đổi, bổ sung một thiết chế xử lý các văn bản vi phạm Hiến pháp gọi là Hội đồng Hiến pháp nên tôi xin được góp ý Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 tại Điều 120 nhằm mục đích bảo vệ Hiến pháp và hủy bỏ những văn bản của tổ chức Đảng CSVN vi phạm Hiến pháp.

C. Góp ý sửa đổi, bổ sung:
Từ thực tiễn vấn đề Hội Hướng đạo Việt nam và với các nhận xét đã trình bày trên đây, tôi xin góp ý bổ sung một khoản mới hoặc một đoạn ngắn tại Điều 120 Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 (dòng chữ bổ sung được in đậm) như sau:

“1. Hội đồng HP là cơ quan do QH thành lập, gồm chủ tịch, các phó chủ tịch và các ủy viên.
2. Hội đồng HP kiểm tra tính hợp hiến các VBQPPL do QH, Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ QH, Chính phủ, Thủ tướng CP, TAND Tối cao, VKSND Tối cao ban hành; kiến nghị QH xem xét lại VBQPPL mình khi phát hiện có vi phạm HP; yêu cầu Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ QH, CP, Thủ tướng CP, TAND Tối cao, VKSND Tối cao sửa đổi, bổ sung VBQPPL của mình hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền hủy bỏ văn bản vi phạm HP; kiểm tra tính hợp hiến của điều ước quốc tế được ký kết nhân danh Nhà nước trước khi trình QH, Chủ tịch nước phê chuẩn.
Hội đồng HP kiểm tra tính hợp hiến các văn bản của tổ chức Đảng; yêu cầu tổ chức Đảng xem xét lại hoặc đề nghị tổ chức Đảng hủy bỏ văn bản của mình khi phát hiện có vi phạm Hiến pháp.
3. Tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Hội đồng HP và số lượng, nhiệm kỳ của thành viên Hội đồng HP do luật định.”

Trân trọng kính chào.

Người góp ý

NGUYỄN LỆNH

(Luật sư NGUYỄN LỆNH – Đoàn Luật sư Tp. Hồ Chí Minh – cựu Hướng đạo sinh VN)

About these ads

4 phản hồi to “Hội Hướng đạo VN – Góp ý Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 từ thực tiễn.”

  1. […] Luật sư NGUYỄN LỆNH, Đoàn Luật sư Tp. Hồ Chí Minh, cựu Hướng đạo sinh VN: Hội Hướng đạo VN – Góp ý Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 từ thực tiễn (LTDA).   – Trần Mạnh Hảo MƯỜI BẢY NĂM TRƯỚC, PGS.TS. NHÀ VĂN NGUYỄN THANH […]

  2. […] Luật sư NGUYỄN LỆNH, Đoàn Luật sư Tp. Hồ Chí Minh, cựu Hướng đạo sinh VN: Hội Hướng đạo VN – Góp ý Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 từ thực tiễn (LTDA).   – Trần Mạnh Hảo MƯỜI BẢY NĂM TRƯỚC, PGS.TS. NHÀ VĂN NGUYỄN THANH […]

  3. […] […]

  4. […] Luật sư NGUYỄN LỆNH, Đoàn Luật sư Tp. Hồ Chí Minh, cựu Hướng đạo sinh VN: Hội Hướng đạo VN – Góp ý Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 từ thực tiễn (LTDA). – Trần Mạnh Hảo MƯỜI BẢY NĂM TRƯỚC, PGS.TS. NHÀ VĂN NGUYỄN THANH TÚ […]

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

%d bloggers like this: