LTDA

Cỏi riêng….

The Myth

Posted by LTDA on Tháng Hai 2, 2012

Địa điểm: Cafe Thần Thoại (The Myth Café)

Địa chỉ: 176 Điện Biên Phủ, P.6, Q.3, Tp.HCM

Đăng trong Uncategorized | Leave a Comment »

Tết Quê

Posted by LTDA on Tháng Một 22, 2012

Năm nay tôi đón tết ở quê.

Chiều, ngõ rộng, gió mùa hut hút thổi

Lấp ló đường thôn bé em khoe áo mới

Mặt lấm lem hai chân đất tím bầm!

Năm nay tôi đón tết ở quê

Xa phố thị, người với xe kẹt cứng

Xa những hân hoan ồn ào chúc tụng

Xa rượu bia với tràn ngập reo hò

Quê tôi đây, vẫn thế… một bến đò

Mùa nước cạn, chèo khua gần chạm đáy

Mùng ba tết, cụ già run lẩy bẩy

Mớ hến sông lay lắt mãi chưa đầy

Bao năm trôi qua vẫn những dáng khô gầy

Tát cạn cả những mùa con nước nổi

Ngày tháng vụt trôi vui buồn đắp đổi

Những cháo rau sao miệng vẫn nhoẻn cười

Thế nhân ôi chua xót những kiếp người

Rau má đắng không biết mình đang đắng

Biết vậy thôi, ngày mai trời hửng nắng

Mò hến mưu sinh… chẳng còn phải rung mình!

Tết quê tôi, nghèo nhưng vẫn thắm nghĩa tình

Lửa vẫn đượm nồi bánh chưng ngày tết

Hãy tạm cất những lo toan mỏi mệt

Một mùa xuân cho hương đất quê nhà!

( Nguyễn trọng Hiệp )

Đăng trong Uncategorized | 1 Comment »

Mai

Posted by LTDA on Tháng Một 21, 2012

Đăng trong Uncategorized | Leave a Comment »

Đêm Trừ Tịch

Posted by LTDA on Tháng Một 21, 2012

除 夜 作 Trừ dạ tác

旅 館 寒 燈 夜 不 眠 Lữ quán, hàn đăng dạ bất miên.
客心 何 事 轉 淒 然 Khách tâm hà sự chuyển thê nhiên.
故鄉 天 夜思 千 里 Cố hương, kim dạ tư thiên lí .
霜鬢明 朝 又 一 年 Sương mấn minh triêu hựu nhất niên.
高 適 Cao Thích

Viết đêm trừ tịch

Đèn khuya, trong quán thẫn thờ.
Lạnh lùng, khách thấy bơ vơ cuộc đời.
Nhớ quê ngàn dặm xa vời.
Sương pha tóc bạc, năm thời đã qua.
VHKT 1985

Trong quán, nhìn đèn, khách thẫn thờ.
Lạnh lùng khách thấy thật bơ vơ.
Nhớ quê hương cũ xa ngàn dặm.
Năm mãn, sương phai tóc bạc phơ.
VHKT 1985

Không ngủ, đèn khya, quán lạnh lùng.
Trong lòng khách trọ thấy mung lung.
Đêm nay, nhớ tới quê xa thẳm.
Tóc nhuộm sương đêm, năm đã cùng.
VHKT

Quán lạnh, đèn khuya, chẳng ngủ nghê.
Trong lòng lữ khách thấy lương thê.
Đêm nay, nhớ tới quê hương cũ.
Sương nhuộm tóc mai, năm mới về.
VHKT

Không ngủ, đèn khuya quán lạnh căm.
Vấn vương, khách thấy dạ như tằm.
Đêm nay, nhớ tới quê ngàn dặm.
Sương nhuộm tóc mai, đã một năm.
VHKT
( Nguyễn Xuân Diện Blog)

Đăng trong Uncategorized | Leave a Comment »

Đa sắc ẩm thực Sài Gòn

Posted by LTDA on Tháng Một 21, 2012

Khi so sánh với vùng miền khác, người ta thường nói: “Ẩm thực Sài Gòn không có bản sắc riêng”. Tính người Sài Gòn vốn thoải mái, dễ chấp nhận ý kiến khác biệt với mình nên đồng ý luôn với nhận xét này.

Thế nhưng, dù mang tiếng “thiếu bản sắc”, ẩm thực Sài Gòn vẫn lừng lững phát triển, ngày càng đa dạng và hấp dẫn đến nỗi nhiều người mê ẩm thực, từng cất công du lịch qua nhiều nước để thỏa mãn thú vui này phải kết luận: “Ở Sài Gòn nếm cho hết các món ngon cũng đủ sướng miệng”.

Hàng quán Sài Gòn cứ phát triển với cung cách phục vụ ngày càng chuyên nghiệp. Các tên tuổi ẩm thực ở vùng miền khác đã đến Sài Gòn mở quán kinh doanh như phở Lò Đúc, chả cá Lã Vọng, nem Ninh Hòa, gà Tam Kỳ rồi đến quán ăn Hàn, Thái, Ấn, Nhật, Ý… nhiều không kể xiết. Để giữ chất lượng và uy tín cho tên tuổi của mình, nhiều quán đặc sản sẵn sàng tận dụng những tiện ích của ngành hàng không với những đường bay nhằm duy trì nguồn nguyên liệu “chất” nhất và nguyên gốc nhất.

Người sành ăn ở Q.1, Q.3 hay Phú Nhuận, Bình Thạnh chưa chắc sành sỏi về những món ăn ở Chợ Lớn. Khu này với nền ẩm thực Trung Hoa phong phú luôn là một điểm đến hấp dẫn. Món Chợ Lớn chắc hẳn qua thời gian đã được cải biên cho hợp khẩu vị và phong thổ ẩm nóng của Sài Gòn, trở nên đỡ ngấy vì nhiều dầu mỡ nước xốt như món ăn Hoa trên đất Trung Hoa. Vả lại, bản thân ẩm thực ở Chợ Lớn cũng quá phong phú với các trường phái của người Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hẹ… Có một ca khúc hài (nhái bài hát Bến Thượng Hải) đã phác họa vẻ phong phú này:

Người Chợ Lớn, người bên Tàu, người Hồng Kông hễ thấy nhau là mời bánh bao
Tuy Phúc Kiến, tuy Hải Nàm, dù Triều Châu tới đâu cũng mời ăn mì
Mì xá xíu, mì vịt tiềm, mì bồ câu, cái tô sau là hoành thánh tôm
Kêu thêm đĩa hủ tíu xào, xào mực tôm, cá viên hẩu xực làm sao

Còn ngon nữa, thì tả pín lù
Người Phúc Kiến nổi danh là vịt nấu chao
Dê bát bửu thêm yến sào
Người già nua tới đâu cũng trẻ lại mau…

Đã vậy, thực đơn tàu luôn được bổ sung các món từ Đài Loan, Singapore hay Hồng Kông, đều là những thiên đường ẩm thực. Từ những dịp gần tết Nguyên đán hồi trước 1975, dân Sài Gòn đã thích vào Chợ Lớn mua sản vật lạ như trái hồng khô Hồng Kông, rượu ngũ gia bì, lạp xưởng Đài Loan… nhập về từ các xứ đó.

Món ăn Sài Gòn thiếu bản sắc vì không ngại du nhập món ăn xứ khác để làm thành của mình. Món hủ tíu người Tiều (Triều Châu) vào Nam bộ cuối thế kỷ 19 và chỉ nấu bằng thịt heo, xương heo và sau này với cá, gà ăn cùng bánh tráng ướt thái sợi. Có người cho rằng đây là món điểm tâm đặc trưng của người Tiều Nam bộ, không thấy có ở Hồng Kông, Đài Loan, Singapore, Thượng Hải… Rồi hủ tíu chia thành nhiều nhánh, đều nổi tiếng như hủ tíu Mỹ Tho, hủ tíu Nam Vang, và không ai nấu với thịt bò. Bây giờ người Việt, người Hoa gốc Quảng Đông, Hải Nàm cũng nấu hủ tíu.

Khu chợ cũ Hàm Nghi có nhiều tiệm nước (tên cũ của quán bán nước trà có ăn nhẹ) của người Quảng Đông từ đầu thế kỷ 20. Tiệm của người Hải Nàm gọi là trà gia thường có chữ Viên, tỷ như Yến Phương Viên bán hủ tíu cá. Người Hải Nàm (gốc đảo Hải Nam) thường đi tàu biển, làm bồi cho Tây nên khi mở tiệm nước thường có bán kèm bánh tây như patéchaud, soux cream… Ở đường Tôn Thất Đạm, Q.1 giờ vẫn còn quán hủ tíu cá Nam Lợi, một quán của người Hoa tồn tại khoảng 60 năm nay.

Quán Nam Lợi bán hủ tíu cá, hủ tíu gà và gà cá ăn chung. Sợi hủ tíu có loại nhỏ và loại to bản, lớn hơn bánh phở và có cả mì sợi tươi. Cá lóc tươi bỏ xương, xắt lát mỏng. Gà thịt dai vừa phải, ngọt thịt. Tô hủ tíu rắc nhiều tiêu, nước lèo có vị ngọt dịu của cá, gà, thoang thoảng mùi mực khô và xương hầm. Trên bàn, bày thêm bánh patéchaud, ai thích thì ăn. Bánh ngon, mềm nhưng không dai, nhân đầy, thịt đậm đà. Việt kiều về đây chen chúc trong không gian chật hẹp cùng dân Sài Gòn, xì xụp ăn giữa tiếng hô ì xèo của chủ tiệm “cá liệu” (thêm đồ ăn), “dùy phảnh”(hủ tíu cá).

Về món ăn ai cũng biết: phở. Nhưng con đường nào để phở Bắc vào Nam còn rất lờ mờ. Nhà nghiên cứu Lý Lược Tam, gốc Triều Châu, từng sống ở Lái Thiêu trước 1945 kể trong một dịp hàn huyên: phở thoạt đầu là thức ăn của người bình dân, bán trên xe đẩy đi khắp hang cùng ngõ hẻm. Trước 1945, người ta nấu phở khi có thịt trâu bò đưa về do chết vì bom đạn. Phở theo chân những người Bắc vào ký công tra làm phu cao su ở Lộc Ninh, nay thuộc Bình Phước. Đến năm 1945, do loạn lạc, số người này bỏ đồn điền chạy về vùng Lái Thiêu và được những đồng hương ở đó giúp vốn mở quán hay xe đẩy đi bán phở. Lúc đó người Bắc (dễ nhận ra do nhuộm răng đen) bị Tây lùng bắt nên một nhóm trốn về Sài Gòn đông đúc. Họ vào cái hẻm bên cạnh rạp hát Casino (góc Lê Lợi – Pasteur, nay không còn) bày bàn phở.

Lúc đầu, chỉ có món phở tái nêm nước mắm. Sau bán thịt tái không hết, họ luộc thịt làm thêm phở chín. Đầu những năm 1960, người Tàu Chợ Lớn chế ra tương đỏ, tương đen và phở tiếp nhận luôn yếu tố ngoại lai này. Sau đưa món chanh tươi vắt vào nước lèo tạo vị ngọt thanh, thêm giá trụng, hành chần, rau ngò gai, quế, và bây giờ có cả rau ngổ, giá sống và hành tây xắt mỏng. Phở Sài Gòn đi một hành trình dài để lột xác, ăn kèm nhiều thứ nhưng không đi quá xa kiểu nấu từ miền Bắc nên giữ hương vị đậm đà, dù ít hay nhiều béo, có hay không rau.

Giới trẻ Sài Gòn thích món bò bía. Nó hấp dẫn vì có vị thơm mát của rau, củ sắn (củ đậu) luộc chín và xà lách gói trong bánh tráng mỏng. Chấm với tương ngon có trộn đậu phộng giã nhỏ, nó cung cấp thêm vị mặn ngọt của con ruốc rang, lạp xưởng ướp. Có người thắc mắc không có thịt bò mà gọi “bò bía”. Tiếng Triều Châu, pò nghĩa là bạc, mỏng. Pía là bánh. Bò bía hay pò pía là cái bánh cuốn mỏng trong có thức ăn. Món này của người Triều Châu, có hai loại mặn và ngọt. Bánh ngọt có nhân kẹo bột, rắc mè, dừa, và ít phổ biến hơn bánh mặn.

Món gỏi đu đủ khô bò vừa cay vừa đậm đà từ miền Bắc đi vào Nam nhưng cũng xuất phát từ người Hoa sống ngoài đó. Danh xưng là gỏi khô bò nhưng miếng thịt lại là phổi, gan, lá lách bò vốn mềm mại, thẩm thấu tốt hương vị đậm đà của hắc xì dầu, gừng.

Khu chợ cũ Hàm Nghi hình thành một món ăn kỳ lạ và khoái khẩu với người Sài Gòn bình dân cách nay nửa thế kỷ. Đó là món xà bần, hay còn gọi là món lâm vố (rabiot). Lai lịch như sau: trong tiệm nước, ngoài đồng lương, người phục vụ được hưởng quyền lợi khác tùy theo công việc. Bồi bưng bê thức ăn hưởng tiền “bo” từ khách. Đầu bếp không tiếp xúc với khách thì hưởng… thức ăn dư của khách. Mỗi ngày, họ đổ thức ăn dư vào xô và bán ra. Người mua cho tất cả vào nồi, bắc lên lò nấu thành một món xà bần sền sệt. Trong đó, có nhiều cục thịt bò còn nguyên, cá bống chiên, thịt quay, hay đôi khi là cục nấm đông cô thơm lừng. Do nấu đi nấu lại, thêm gia vị và muối, món này càng đậm đà, giữ được lâu. Giới phu phen và cả công chức thời đó thiếu chất thịt trong bữa ăn nên không ngại ăn đồ thừa, buổi trưa ra mua một tô ăn tại chỗ với bánh mì hay cơm với giá 2 cắc, rẻ hơn giá tô hủ tíu, ai cũng ăn được và thường hết sớm. Sau 1975, món này hoàn toàn biến mất.

Người sống ở Sài Gòn có thể kể vanh vách những món ăn đặc trưng ở nhiều vùng đất khác, nhưng nói về món đặc sản Sài Gòn thì… hoang mang. Nhưng có hề chi, khi ra đường sẽ gặp bao món ăn thơm ngon. Nhớ chuyến du lịch Singapore thì ăn cháo ếch đường Lê Anh Xuân, thích cơm Hàn thì đến phố Thăng Long, cơm Nhật thì ra Lê Thánh Tôn, ăn dim sum thì vô Hà Tôn Quyền, cơm Thái thì ra Bùi Viện. Cơm Huế thì quán Ruốc, Ngự Bình, cơm Bắc thì vô khu sân bay, mì Quảng thì ra ngã ba Cống Quỳnh, muốn mì vịt tiềm thì ra chợ Lacaze – Nguyễn Tri Phương. Còn chè, cà ri, cháo lòng, bột chiên, cơm tấm bán theo quán riêng.

“Ẩm thực Sài Gòn thiếu bản sắc”, nhưng không thể chối cãi rằng món ngon ở khắp nơi thích tụ về Sài Gòn (cũng như người đẹp, ca sĩ hay nhân tài các ngành nghề thích tụ về) để tồn tại và phát triển trong một hành trình riêng của nó, để làm nên một khuôn mặt đa sắc cho đời sống ẩm thực Sài Gòn.

Sự đa sắc đó có thể gọi là bản sắc ẩm thực kiểu Sài Gòn được chăng?

(Phiên An)

Đăng trong Uncategorized | Leave a Comment »

Tết Người Hoa

Posted by LTDA on Tháng Một 20, 2012

Người Hoa có mặt khắp nơi trên đất nước Việt Nam, đặc biệt là TP Hồ Chí Minh. Qua nhiều thế hệ, họ vẫn giữ được nét văn hóa truyền thống rất riêng của mình. Ngoài việc góp phần không nhỏ vào quá trình phát triển chung của Thành phố, những giá trị văn hóa của cộng đồng người Hoa đã làm cho kho tàng văn hóa TP Hồ Chí Minh nói riêng và Việt Nam nói chung thêm đa dạng, phong phú.

Nhắc đến đồng bào Hoa là nhắc đến các lễ hội phủ đầy trong năm và các lễ hội ấy đều căn cứ vào lịch mặt trăng (rằm, mồng một…). Hầu hết các ngày lễ, hội, các dịp cúng kiếng theo phong tục truyền thống Hoa cũng được các dân tộc khác ở nước ta tham gia rất sôi nổi. Đồng bào Hoa ở Sài gòn cũng có Tết Nguyên đán trùng với ngày Tết của cả dân tộc.

Những ngày trước tết

Bước sang tháng Chạp, người Hoa chọn ngày tốt để quét dọn dẹp nhà cửa, làm lễ tạ thần. Đó là lễ đáp tạ Trời, Phật, Ông Bà đã cho gia đình một năm bình an. Cúng xong, người ta mang vật cúng chia cho họ hàng, người quen, gọi là chút quà thơm thảo. Nhà này mang vật cúng cho nhà kia. Đến khi nhà kia cúng sẽ mang cho lại nhà này. Đây cũng là cách làm cho tình thân thêm gắn bó.

Sau đó là lễ đưa ông Táo. Khác với người Việt cúng đưa ông Táo vào tối ngày 23 tháng Chạp, người Hoa thường tiễn ông Táo về Trời vào sáng hôm sau, ngày 24 tháng Chạp. Vật cúng ông Táo thường có các món ngọt như thèo lèo và quýt. Trong tiếng Hoa, “quýt” đồng âm với “cát” (cát tường = may mắn). Người ta hy vọng ông Táo sẽ tâu những lời tốt lành, mang lại may mắn cho gia đình.

Ngày ba mươi Tết

Trong nhà người Hoa thường dán câu đối liễn. Đến ngày 30 Tết, người ta thay câu đối liễn mới, giấy đỏ chữ vàng, nội dung thường mang thông điệp tốt lành như Xuất nhập bình an, Kim ngọc mãn đường, Tân xuân đại cát… Với những gia đình làm ăn buôn bán tại nhà, nội dung câu đối liễn thường là Nhất bổn vạn lợi, Khai trương hồng phát, Sinh ý hưng long… Ngoài ra, người ta còn dán chữ “Xuân” và “Phúc” ngược trên cửa, chữ “ngược” tiếng Hoa đọc là “đáo”, nghĩa là Xuân đến, Phúc đến.

Chiều 30 Tết, trẻ con được tắm rửa sạch sẽ, thay bộ quần áo mới màu đỏ – màu may mắn theo quan niệm của người Hoa – rồi đi chúc tết ông bà, cha mẹ và nhận tiền lì xì.

Giao thừa cũng là ngày đoàn tụ gia đình. Tối giao thừa, các thành viên trong gia đình sẽ quây quần bên nhau ăn bữa cơm đoàn viên thịnh soạn. Mọi người đón giao thừa vào lúc 12 giờ đêm. Người Việt có mâm ngũ quả “cầu, sung, dừa, đủ, xoài” thì người Hoa có quýt, bánh bao, bánh Tổ. Tiếng Hoa gọi bánh bao là “Phát bao”, bánh Tổ là “Niên cao”… Tựu trung đều mang ý nghĩa là sự ước mong cho năm mới, gia chủ được may mắn, phát tài, năm mới sẽ tốt hơn năm trước… Cũng như món bánh chưng, bánh tét của người Việt, bánh tổ và bánh củ cải là hai món ăn gần như không thể thiếu trong ngày tết của người Hoa gốc Triều Châu sinh sống tại Việt Nam. Bánh Tổ -món bánh này được làm bằng bột nếp trộn với đường đã nấu loãng, sau đó đổ vào khuôn hình tròn đem hấp. Bánh củ cải là loại bánh mặn, bánh này được làm từ củ cải trắng và một số nguyên liệu khác như bột gạo, tôm khô, thịt ba rọi, nấm đông cô và tỏi tây. Lượng củ cải trắng nhiều gấp đôi lượng bột gạo.
Người Quảng Đông cúng giao thừa còn có giò heo, cải xà lách xanh sống. Tên những thứ này khi đọc lên thường có ý nghĩa tốt lành. Heo đọc là “trư”, đồng âm với “châu” – ý là “châu long nhập thủy”, châu báu đầy nhà. Cải xà lách tiếng Quảng đọc là “Phát soi”, đồng âm với “Phát tài”…
Mùng Một Tết

Ngày mùng Một Tết được coi là ngày thờ cúng mời thánh thần và tổ tiên về ăn Tết. Nhiều người Hoa kiêng ăn thịt vì cho rằng điều đó sẽ đem lại cuộc sống trường thọ, hạnh phúc.

Sáng mùng Một Tết cũng là thời điểm gia đình tập trung đông đủ đón năm mới, vị cao niên trong nhà sẽ phát phong bao “lì xì” mừng tuổi cho con cháu và khách là nam thanh nữ tú, trẻ em đến chúc tết gia đình.
Mùng Hai Tết
Ngày mùng Hai Tết, các con rể đến thăm và mừng tuổi nhạc phụ, nhạc mẫu. Câu nói phổ biến nhất mà mọi người trong gia đình chúc tết nhau và chúc tết khách đến chơi trong dịp Nguyên đán là “Cung hỷ phát tài” và chủ nhà thường đãi khách bằng tiệc trà. Hoạt động chính trong ngày Mùng 2 Tết chủ yếu là phong tục “Khai Niên”: vào buổi sáng sớm của ngày này, nữ chủ nhân trong gia đình sẽ bắt tay chuẩn bị bữa cơm mở đầu năm mới với nhiều món ăn mang các ý nghĩa tốt đẹp như: gà, cá, bánh củ cải, rau xà lách, …

Mùng Ba Tết

Tương truyền Mùng 3 Tết là ngày “Xích Khẩu” (tranh luận, cãi nhau) nên vào ngày này thường sẽ không đi thăm viếng bạn bè mà chủ yếu chỉ ở nhà cúng tế tổ tiên là chính. Ngày này cũng là ngày chuột cử hành hôn lễ nên mọi người thường sẽ đi ngủ sớm để tránh làm phiền các chú chuột!!! Và cũng có tục lệ rải thóc, bánh, muối ở các góc tường để mời chuột ăn, ngụ ý trong năm mới sẽ có mùa màng bội thu. Tuy nhiên đây chỉ là phong tục mang màu sắc mê tín của người xưa, ngày nay mọi người đã không còn chú trọng những điều này nữa mà mùng 3 Tết vẫn là ngày đẹp trời để du xuân, thăm viếng bạn bè.

Mùng Bốn Tết

Mùng 4 Tết là ngày đón tiếp các vị thần linh về trần gian, theo truyền thuyết, tất cả các vị thần linh từ 24 tháng chạp đều về thiên đình chầu Ngọc hoàng, đến Mùng 4 mới bắt đầu trở về trần gian. Vì thế vào ngày này, các gia đình người Hoa thường chuẩn bị hương hoa, bánh trái để nghênh đón các vị thần bảo hộ cho gia đình.

Mùng Năm Tết

“Phá ngũ”, “Ngày thần tài” là tên gọi của Mùng 5 Tết. Gọi là “phá ngũ” vì đây là ngày có thể “phá” bỏ những kiêng kị của những ngày Tết, mọi người có thể tự do sinh hoạt, vui chơi mà không lo phạm vào những điều cấm kị của ngày Tết nữa. Mùng 5 Tết còn là ngày đón “Thần Tài”, theo truyền thuyết dân gian, hôm nay là ngày nghênh đón “Ngũ lộ tài thần” (tức thần tài của 5 phương hướng), mọi người tin rằng đón được Thần Tài thì trong năm mới sẽ được sung túc và phát tài.

Mùng Sáu Tết

Mùng 6 Tết được xem là ngày tiễn “Thần Nghèo”, đây là một tập tục cổ xưa, ngày nay đã không còn thịnh hành nữa; đây cũng là ngày chính thức kết thúc một dãy những ngày vui chơi của Tết, hôm nay là ngày bắt đầu dọn dẹp nhà cửa chuẩn bị cho một ngày làm việc đầu tiên của năm mới; và hôm nay cũng là ngày các cửa tiệm, cửa hàng khai trương bắt đầu buôn bán cho một năm mới. Theo truyền thuyết, mùng 6 cũng là ngày sinh nhật của NGỰA, tượng trưng cho “Mã Đáo Thành Công”, đây cũng là một trong những lý do được nhiều người chọn để khai trương buôn bán.

(Thesaigontimes)

Đăng trong Uncategorized | Leave a Comment »

NGƯỜI HOA TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM

Posted by LTDA on Tháng Một 9, 2012

TS Châu Thị Hải *

Viện Khoa học xã hội Việt Nam

Trong cuộc Hội thảo Việt Nam học lần thứ nhất được tổ chức tại Hà Nội vào mùa thu năm 1998, tôi đã có dịp đưa ra thảo luận vấn đề: Diễn biến địa lý và lịch sử trong quá trình tiếp xúc và giao lưu văn hoá Việt – Hoa. Tôi có dự định sẽ thảo luận những vấn đề tiếp theo như: người Hoa với quá trình hình thành và phát triển các đô thị thương mại ở Việt Nam; người Hoa với các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc; với quá trình đổi mới đất nước; đặc biệt trong xu thế hội nhập khu vực và thế giới hiện nay,… tại cuộc hội thảo Việt Nam học lần thứ hai. Nhưng đáng tiếc là thời gian đó tôi chưa có cơ hội để tham gia. Thực ra, những vấn đề này không phải là hoàn toàn mới, ở chừng mực nào đó chúng đã được đề cập đến trong một số công trình nghiên cứu của tôi và các nhà khoa học ở Việt Nam (1). Nhưng để nhận thức một cách đầy đủ về đặc điểm của cộng đồng người Hoa qua các thời kỳ lịch sử Việt Nam; những đặc điểm đó bắt nguồn từ đâu; chúng có những biểu hiện tích cực và tiêu cực như thế nào đến sự phát triển của cộng đồng này nói riêng và của lịch sử Việt Nam nói chung; làm thế nào để hạn chế những biểu hiện tiêu cực và phát huy những yếu tố tích cực cho sự phát triển cộng đồng,…cho đến nay thiết nghĩ vẫn cần tiếp tục đưa ra thảo luận. Tuy nhiên, trong phạm vi một bản báo cáo khoa học, tôi không thể trình bày một cách dàn trải tất cả những vấn đề đặt ra mà chỉ tập trung thảo luận sự hiện diện của cộng đồng người Hoa và vai trò của họ trong lịch sử Việt Nam. Do giới hạn số trang trong bản báo cáo khoa học, tôi chỉ trình bày tập trung vai trò của họ trong thời kỳ hình thành và phát triển của các đô thị thương mại thời kỳ cổ trung và cận đại Việt Nam và cũng chỉ tập trung vào những hoạt động kinh tế của họ. Thời kỳ từ khi Việt Nam thực hiện chính sách Đổi mới đến nay sẽ đưa ra thảo luận trong một dịp nào đó (mặc dù một số những hoạt động của người Hoa trong thời kỳ này chúng tôi cũng đã công bố trong ít nhiều công trình nghiên cứu của mình).

Khác với nhiều thành phần dân tộc cư trú trên đất nước Việt Nam, cộng đồng người Hoa là một thành phần dân tộc “phi nguyên trú”, họ di cư từ các tỉnh phía Nam Trung Hoa sang. Có thể nói do đặc điểm địa lý, so với các nước trong khu vực, người Hoa đến Việt Nam khá sớm. Theo nguồn thư tịch cổ Việt Nam, họ đến đây từ thế kỷ thứ III trước công nguyên. Không kể binh lính và các đội quân xâm lược, người Hoa di cư vào Việt Nam rồi định cư ở đây thường diễn ra phổ biến từ sau các cuộc nội chiến ỏ Trung Quốc. Đó là các thời kỳ cuối Đường – đầu Tống (960 – 1279); cuối Tống – đầu Nguyên (1279 – 1368); cuối Nguyên – đầu Minh 1368 – 1644); cuối Minh – đầu Thanh (1644 – 1911). Theo dòng lịch sử cùng với sự biến động của lịch sử Trung Quốc, số lượng người Hoa đến Việt Nam ngày càng tăng dần. Họ cư trú khá tập trung ở những nơi có điều kiện buôn bán làm ăn, dần dần hình thành các khu phố Khách (Chinatowns). Tại Việt Nam có bốn trung tâm thương mại nổi tiếng mà ở đó người Hoa đã đóng một vai trò trung tâm trong hoạt động thương mại. Đó là đô thị thương mại Vân Đồn thế kỷ XV, đô thị Phố Hiến thế kỷ XVI, đô thị Hội An thế kỷ XVII và Sài Gòn – Chợ Lớn thế kỷ XVIII, XIX. Trong đó các đô thị Vân Đồn, Phố Hiến, Hội An vai trò người Hoa chỉ nổi lên trong một thời gian rồi suy yếu cùng với sự suy tàn của các đô thị này. Nhưng ở Sài Gòn – Chợ Lớn vai trò hoạt động thương mại của người Hoa vẫn trường tồn theo năm tháng và ngày càng phát triển từ đô thị thương mại trong thế kỷ XVIII đến nay đã trở thành một thành phố thương mại sầm uất nhất của nước Việt Nam.

Trước hết nói đến các đô thị thương mại ở Đàng Ngoài. Theo Ngô Thì Sỹ, ở Đàng ngoài đến cuối thế kỷ XVII có khoảng 5, 6 vạn người Hoa ở rải rác nhiều nơi, nhưng tập trung nhiều thương nhân nhất lúc bấy giờ là hai trung tâm buôn bán: Kẻ Chợ (Thăng Long – Hà Nội ngày nay) và Phố Hiến (Hưng Yên). Trung tâm Kẻ Chợ là nơi tập trung hàng hóa từ các miền phục vụ cho các tầng lớp quan lại và người dân kinh thành. Còn Phố Hiến là trung tâm giao dịch hàng hoá quốc tế, vừa là nơi tập kết nhưng cũng vừa là nơi phân phối hàng hóa cho các vùng miền khác nhau. Cũng theo Ngô Thì Sỹ, ở Phố Hiến lúc bấy giờ có khoảng 2000 nóc nhà phân bố ở 10 phường khác nhau, trong số đó nhà của người Hoa và người Nhật tập trung tại hai khu phố riêng biệt là “Phố Khách” (phố người Hoa) và “phố người Nhật”1. Họ làm chủ thị trường nội địa và tuyến hàng giao dịch giữa Phố Hiến và các đô thị trong nước; giữa Phố Hiến và các thuyền buôn Trung Quốc và các nước đến từ khu vực Đông Nam Á. Với vai trò này, các trung tâm buôn bán của người Hoa ở Phố Hiến trở thành các khu trung chuyển hàng hoá. Sách Hoà – Hán* tam tài đô hội có ghi một số mặt hàng cụ thể từ Phố Hiến được xuất khẩu sang Nhật Bản do người Hoa đảm nhiệm. Đó là lụa, lĩnh, đũi, nhung, tơ, bông, xạ hương,…chưa kể đến lượng hàng hóa được xuất khẩu sang các nước Anh, Pháp, Hà Lan, Philippin, như trong tấm bia “Anh linh Vương” ở Phố Hiến có nhắc đến., chắc chắn các mặt hàng từ bốn phương trong cả nước và có thể từ một số nước đã tụ hội về Phố Hiến thông qua vai trò của Hoa thương.

Trước và sau Phố Hiến một thời gian, ở Việt Nam còn có các đô thị hoạt động mà ở đó vai trò buôn bán của người Hoa cũng nổi lên khá rõ nét. Đó là cảng thị Vân Đồn, Vạn Ninh, Cần Hải và Hội An. Trước hết nói đến cảng thị Hội An nằm bên bờ sông Thu Bồn, cách Thành phố Đà Nẵng 25 km về phía Nam và 8 km từ biển vào, ngay từ đầu thế kỷ, Hội An đã trở thành cảng khẩu và trung tâm thương mại lớn nhất của Việt Nam thời giờ và là địa điểm trung chuyển hàng hóa quan trọng không chỉ của khu vực Đàng Trong của Việt Nam mà còn là của cả khu vực Đông Nam Á.

Những thương gia Trung Quốc đến buôn bán và cùng với những dòng người di cư đến đây đã hình thành nên khu “Phố Khách” sầm uất, cùng với khu “Phố người Nhật” đã làm cho bộ mặt của Hội An trở thành một đô thị vừa mang tính thương mại vừa mang tính đô thị kiều dân giống như đô thị Phố Hiến ở Đàng ngoài của Việt Nam. Họ đến đây từ đầu thế kỷ XVII nhưng đến giữa thế kỷ XVII – khi triều Minh bị quân đội Mãn Châu lật đổ, số người nhập cư tăng lên nhanh chóng làm cho số lượng người Hoa ở Hội An chiếm phần chủ yếu trong cơ cấu dân cư đô thị.

Chúa Nguyễn đã cho họ cư trú trong từng khu riêng biệt gọi là Minh Hương xã (làng Minh Hương). Thế kỷ XVII, dân số Minh Hương khoảng 6 nghìn người. Khi nói đến người Hoa và người Nhật, người truyền giáo Ch.Borri đã viết: “Người Hoa và người Nhật là những người buôn bán chính trong phiên chợ kéo dài 4 tháng hàng năm. Chúa Nguyễn ở Đàng Trong đã cho phép họ xây dựng một thị trấn nơi họ đã chọn để cư trú. Thị trấn này gọi là Faifo, nó khá rộng và được chia thành hai khu phố riêng biệt của người Nhật và người Hoa. Họ có cơ quan quản lý riêng và sống theo phong tục tập quán riêng của mỗi nước. Sau khi chính phủ Nhật Bản thi hành chính sách đóng cửa, dân số người Nhật giảm sút nhanh chóng từ hàng ngàn gia đình chỉ còn lại 5 gia đình. Trong khi đó dân số người Hoa vẫn tiếp tục tăng lên và giao lưu buôn bán giữa Trung Quốc và Hội An hoặc giữa Trung Quốc và các nước qua vai trò trung chuyển của Hội An vẫn tiếp tục phát triển. Hàng hóa buôn bán của người Hoa ở đây khá đa dạng. Họ phân phối các loại hàng do các thuyền buôn từ Trung Quốc và các nước Xiêm, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Anh, Pháp, Hà Lan,…mang đến như đồng, tơ lụa, đồ sứ, thuốc chữa bệnh,…và thu gom các loại sản phẩm như lụa, trầm hương, kỳ nam, quế, hồ tiêu, yến sào, xạ hương,… đặc biệt là vàng để bán lại cho các chủ tàu từ các nước nói trên 2. Như vậy, người Hoa ở Hội An thực sự đã trở thành một lực lượng buôn bán chính và là một lực lượng môi giới quan trọng trong quá trình giao lưu thương mại giữa Việt nam và các nước ngoài khu vực và trên thế giới. Không những thế, cùng với đặc trưng cư trú của mình, người Hoa còn góp phần vào quá trình định hình bộ mặt đô thị thuơng mại Hội An.

Hình thành muộn hơn Phố Hiến ở Đàng Ngoài và Hội An ở Đàng Trong, Sài Gòn – đô thị ở vùng phía Nam của Việt Nam cũng là một trung tâm thương mại sầm uất mà ở đó người Hoa cũng đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động buôn bán. Sài Gòn là một đô thị thương nghiệp với vô số chợ lớn nhỏ: chợ Bến Nghé, chợ Cây Đa còm, chợ Bến Thành, chợ Tân Kiểng, chợ Quán, chợ Nguyễn Thục, chợ Bình An,…, khu phố Chợ Lớn là trung điểm của mọi hoạt động buôn bán mà người Hoa là lực lựợng chủ lực của trung điểm này. Sau khi bị quân Tây Sơn phá huỷ khu trung tâm thương mại Cù Lao Phố (Biên Hoà), thương gia người Hoa đã chạy xuống khu vực Tây Cống (Chợ Lớn ngày nay) năm 1778. Họ tụ hội tại đây và hình thành nên một phố chợ để tiếp tục hoạt động buôn bán (gọi là Bazar Chinois – chợ người Hoa). Trước khi hình thành Bazar Chinois, ở đây đã có khu phố thị của người Việt, tuy chợ của người Hoa xây sau nhưng lại bề thế hơn nên gọi là Chợ Lớn (sau này thương gia người Hoa Quách Đàm tiếp tục lập ra Chợ Lớn mới nay là chợ Bình Tây). Chợ Lớn trên thực tế là khu vực tiếp nhận sự di dời của cả một cảng thị lớn của vùng Nam Bộ ở Cù Lao Phố (Biên Hoà) nên tuy mới hình thành nhưng nó đã thừa kế được tiềm năng hoạt động buôn bán của khu vực cũ, các thương gia người Hoa chỉ chuyển đổi hình thức hoạt động từ thu mua lâm sản sang hình thức dịch vụ xay xát, xuất khẩu lúa gạo và cung cấp nhu yếu phẩm cho vùng đồng bằng sông Cửu Long đang trong thời kỳ phát triển. Dưới thời nhà Nguyễn, đặc biệt là dưới thời Lê Văn Duyệt, do chính sách mở rộng giao lưu và khuyến khích tiếp nhận tàu buôn nước ngoài đến buôn bán làm ăn ở khu vực Sài Gòn – Chợ Lớn, người Hoa có điều kiện phát huy khả năng hoạt động xuất nhập khẩu lúa gạo và vai trò môi giới của mình. Dưới thời Lê Văn Duyệt, Chợ Lớn đã trở thành một trung tâm giao dịch sôi động và là thời kỳ làm ăn thịnh vượng của người Hoa kể từ sau khi cuộc tàn sát của quân Tây Sơn. Vì thế, cho đến tận bây giờ, ngưòi Hoa ở khu vực Sài Gòn – Chợ Lớn vẫn xem họ Lê như một vị thần tài của Sài Gòn 3.

Như vậy, trước khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, người Hoa đã đóng vai trò quan trọng trong hoạt động thưong nghiệp. Vai trò này có điều kiện phát huy sau khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX, nhất là qua hai cuộc khai thác thuộc địa vào đầu thế kỷ XX. Công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự chuyển biến kinh tế của Việt Nam. Nó đã tạo điều kiện hình thành mầm mống kinh tế tư bản chủ nghĩa, thúc đẩy quá trình hoạt động buôn bán của người bản xứ, đặc biệt là người Hoa, trong đó tư bản thương mại người Hoa chiếm vị trí quan trọng, chiếm 62% trong tổng số vốn thương mại, còn tư bản Pháp chỉ chiếm 38%. Nếu trong tổng số vốn tư bản thuộc địa ở Việt Nam là 224 triệu Fr. thì tư bản Pháp và tư bản người Hoa đã chiếm tới 222 triệu Fr., còn tư bản người Việt và người các nước khác chỉ có 2 triệu Fr., chiếm 0,5%. 4 Một mặt nhờ tính đa dạng về nghề nghiệp, tính tổ chức chặt chẽ, tính tương đồng về ngôn ngữ trong quá trình thiết lập hệ thống kinh doanh mạng, người Hoa có lợi thế trong nắm bắt thị trường; mặt khác, lại được chính quuyền Mãn Thanh và chính quyền thuộc địa Pháp có chính sách ưu ái đối với họ. Chính quyền Mãn Thanh thi hành chính sách bất bình đẳng trong hoạt động thương mại với Việt Nam như cấm người Việt vào sâu trong nội địa của Trung Quốc để buôn bán, kể cả đường bộ lẫn đường thuỷ, trong khi đó người Hoa vẫn được phép vượt biên giới mỗi tháng 6 lần sang Trung Quốc và Việt Nam để mua bán lúa gạo. Biện pháp này đã giúp người Hoa làm chủ thị trường Việt Nam cho đến khi hàng hoá phương Tây tràn ngập thị trường này, sự độc quyền của người Hoa không còn nữa. Họ phải tiến hành cạnh tranh quyết liệt với các lực lượng tư bản nước ngoài. Nhưng chính sự cạnh tranh này đã giúp họ năng động hơn trong khi lựa chọn ngành nghề hoạt động. Lợi dụng ưu thế về ngôn ngữ vừa biết tiếng Việt vừa có tiếng Hoa, họ nhanh chóng thiết lập mạng lưới kinh doanh của mình trong hệ thống buôn bán lúa gạo ở vùng đồng bằng Nam Bộ và khu vực Sài Gòn – Chợ lớn. Những thương gia Hoa cũng như những mạng lưới của họ ở khu vực Sài Gòn – Chợ Lớn đã thực sự mang lại quyền lợi cho tư bản Pháp trong việc tiến hành thu mua và xuất khẩu lúa gạo ở “vựa thóc Nam Kỳ”. Như vậy, trước khi ngành công nghiệp thực sự đưa lại sự giàu có cho Đông Dương, ngành xuất khẩu (chủ yếu là xuất khẩu lúa gao và sắt thép) là ngành tiêu biểu cho sự giàu có của cả khu vực này. Về ngành thương mại nói chung và ngành xuất khẩu nói riêng chủ yếu nằm trong tay thương nhân Hoa 5.

So với tư sản người Việt, tư sản người Hoa là chỗ dựa xã hội đáng tin cậy của người Pháp ở Đông Dương, vì dù sao tư sản người Việt còn có tinh thần dân tộc, cơ sở kinh tế lại quá bé nhỏ nên không đủ sức đảm nhiệm vai trò môi giới chuyển giao hàng hóa giữa ngoại quốc và nội địa, mà chỉ có “Hoa kiều là những người duy nhất có đủ sức mua và có đủ tư cách mua những hàng hoá của Pháp để dùng ở khu vực thành thị, họ trở thành những người trung gian tuyệt vời giữa người ngoại quốc và người bản xứ. Tất cả những đặc điểm đó đã làm cho người Pháp kiêng nể họ. Các vị Toàn quyền Pháp ở Đông Dương đã thừa nhận vai trò, vị trí của người Hoa, không bao giờ thấy Hội đồng dân biểu Đông Dương đòi hỏi chính quyền phải có những biện pháp hạn chế đối với họ, không những thế, trong phiên họp ngày 3/8/1900, Hội đồng thuộc địa Nam Kỳ còn ra quyết nghị miễn cho người Hoa nộp khoản tiền đăng bạ năm đầu khi họ mới đến”6.

Tuy đã dành cho người Hoa phần ưu ái như vậy, nhưng người Pháp không bao giờ quên rằng họ phải chiếm độc quyền trong hoạt động thương mại ở Việt Nam. Để có thể chiếm được vị trí độc quyền trong hoạt động thương mại, người Pháp đã lập ra Ngân hàng Đông Dương (Banque de L’Indochine) năm 1873 trên cơ sở hợp nhất các tổ chức tài chính: “Chiết khấu ngân hàng quốc gia” (Comptoi r national d’ Escompte), “Ngân hàng kỹ nghệ và thương mại” (Crédit Industriel et Commercial), ngân hàng Paris và Hà Lan (Banque de Paris et des Pays – Bas), và Tổng công ty (Société générale). Từ đó Ngân hàng Đông Dương trở thành trung tâm phát hành giấy bạc và trở thành một bộ phận chủ chốt của hệ thống khai thác thuộc địa. Trong điều kiện như vậy, các nhà buôn người Hoa lập ra các tổ chức tài chính của mình để tham gia cạnh tranh với tư bản độc quyền Pháp. Ngân hàng Pháp – Hoa đã được thành lập bên cạnh các ngân hàng Đức, Anh 7. Tuy nhiên, hệ thống tài chính non trẻ của người Hoa không thể cạnh tranh được với các tổ chức tài chính dày dạn kinh nghiệm của tư bản Pháp và tư bản người Âu khác, các thương gia người Hoa ở Sài Gòn thành lập “Phòng thương mại” trên cơ sở các tổ chức tín dụng của người Hoa. Đây là một tổ chức tài chính khá chặt chẽ theo hệ thống khép kín có khả năng điều hoà giá cả trên thị trường và điều khiển những hoạt động buôn bán của người Hoa ở Việt Nam. Nhờ hệ thống tài chính này, người Hoa đã vượt qua được cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 1919 – 1923 và 1929 – 1933 để cạnh tranh với các thế lực tư bản nước ngoài ở Việt Nam và tiếp tục đứng vững trên nhiều lĩnh vực hoạt động kinh doanh. Trong các ngành tư bản khác, vốn của tư bản người Hoa cũng khá lớn, chiếm 24%, trong tổng số vốn của tư bản thuộc địa, chỉ đứng sau tư bản Pháp. Không chỉ ở Sài Gòn – Chợ Lớn và trong ngành xay xát lúa gạo, ngay trong nhiều ngành công nghiệp nhẹ ở Hải Phòng, Hà Nội, người Hoa cũng nắm trong tay nhiều xí nghiệp vừa và nhỏ. Năm 1939 ở Hải Phóng có 70 xí nghiệp, người Hoa chiếm 24, người Pháp 38, và người Việt chỉ có 6. Hầu hết các xí nghiệp của người Hoa thuộc loại vừa và nhỏ nên số vốn đầu tư của họ không lớn. Năm 1943 vốn đầu tư của người Hoa ở Đông Dương chỉ có 82 triệu Fr. chiếm 20% trong khi đó, tổng số vốn đầu tư tư bản nước ngoài là 4 tỉ Fr.8 Nói tóm lại, người Hoa đã xuất hiện trong xã hội Việt Nam từ khá sớm và cùng đồng hành với lịch sử Việt Nam qua các thời kỳ. Từ khi nền kinh tế hàng hoá Việt Nam mới hình thành trong các thế kỷ XVI, XVII, XVIII, và phát triển trong thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, Ở thời điểm nào hình ảnh và vai trò, vị trí kinh tế của người Hoa cũng khá nổi bật. Từ vai trò môi giới, trung gian trong giao dịch hàng hoá, đến làm chủ các hãng buôn xí nghiệp, người Hoa đã thể hiện khá thành công những đặc tình kinh doanh của mình. Đó là cách thức vận dụng các mối quan hệ họ hàng, sự tương đồng về văn hóa, ngôn ngữ để thiết lập một hệ thống kình doanh khép kín. Họ đặc biệt tôn trọng và tận dụng chữ “tín” để giải quyết các hợp đồng nóng khi thời cơ đến. Khả năng tự huy động nguồn vốn có hiệu quả qua các hình thức tín dụng gia đình,….là những yếu tố dẫn đến thành công của họ qua các thời kỳ lịch sử. Những yếu tố này sẽ được phát huy như thế nào trong quá trình tiếp tục khẳng định vai trò và vị trí của họ trong nền kinh tê đổi mới của Việt Nam cũng như trong xu thế hội nhập khu vực và quốc tế hiện nay, chúng ta sẽ tiếp tục thảo luận trong một dịp khác.
(Theo ABS)

Đăng trong Uncategorized | Leave a Comment »

 
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.