Chủ nhật 02/06/2013

Posted by LTDA on Tháng Sáu 3, 2013

Đăng trong Uncategorized | Leave a Comment »

Just do it!

Posted by LTDA on Tháng Năm 17, 2013

970672_419257584848522_283418833_n

Đăng trong Uncategorized | Leave a Comment »

Chúng ta rồi sẽ đi về đâu…

Posted by LTDA on Tháng Năm 9, 2013

Dạo gần đây, thấy trên mạng càng ngày càng nhiều những tranh cãi, nghi ngờ, chửi rủa lẫn nhau không thương tiếc lời, đúng là thời buổi niềm tin bị khủng hoảng và có khi quý còn hơn cả vàng. Nhưng đôi khi nó cũng khiến tôi tự thắc mắc rằng, tại sao những người cùng sống trong một xã hội, một cộng đồng hay những người chia sẻ chung nhiều văn hóa, hoàn cảnh lịch sử vẫn có thể chửi rủa nhau một cách dễ dàng và bình thường như thế.

Trở lại cuộc nội chiến ở Việt Nam vào thế kỷ 20, chúng ta không thể thay đổi được những gì đã qua và việc trong quá khứ, nhưng cái chúng ta cần, theo tôi, là hiểu rõ được quá khứ và biết được hiện tại mình cần phải làm gì, để hướng đến một tương lai nào đó ta mong muốn, nhìn lại cuộc chiến đã gây ra nhiều mất mát, hy sinh, nhiều lúc tôi tự hỏi, có phải con người chúng tabản chất là tàn bạo, hung ác hay không? Bởi vì chúng ta đã gây ra biết baonhiêu cuộc chém giết, tàn sát lẫn nhau. Nhưng sau khi tự mình suy nghĩ, quan sát và cảm nhận, thì câu trả lời của tôi là “Xin thưa, Không!”. Xin nói rõ luôn, nếu có những cuộc chém giết, chiến tranh thì cũng là những cuộc chiến của những “ý thức hệ” hay “niềm tin” nào đó của một nhóm người nào đó đặt lên vai loài người chúng ta để biến chúng ta trở thành những nạn nhân của những cuộc chiến tranh tàn sát. Con người chúng ta, có ai mà muốn có chiến tranh, giết hại đẫm máu? Trong bài viết lần này, tôi cũng xin bày tỏ tất cả sự thương tiếc dành cho tất cả những nạn nhân của cuộc chiến, không chỉ người lính, người dân thường vô tội của cả hai Miền, mà còn xin dành sự thương tiếc cho cả những người lính Mỹ, và những người lính nước khác đã bỏ mạng tại cuộc chiến ở Việt Nam.

Hôm qua vô tình tôi biết được một bài hát từ trên tường của một người bạn, một bài hát lần đầu tôi được nghe, bài hát nói lên những tâm tư và suy nghĩ của người lính Mỹ khi phải giã biệt gia đình ở quê nhà để đến Việt Nam chiến đấu. Tuy giản dị nhưng rất ý nghĩa, xin trích ra đây một đoạn nhỏ từ bài hát:

“I hope and pray someday the world will learn

That fires we don’t put out will bigger burn
We must save freedom now at any cost
Or someday our own freedom will be lost

Kiss me goodbye and write me while I’m gone
Goodbye my sweetheart, Hello Vietnam.”

Tạm dịch:

“Anh hy vọng và cầu nguyên một ngày nào đó trên thế giới sẽ nhận ra rằng

Những ngọn lữa nếu chúng ta không dập tắt, nó sẽ bùng cháy dữ dội hơn

Chúng ta phải cứu lấy sự tự do ngay bây giờ, bằng bất cứ giá nào

Hoặc là một ngày nàođó chúng ta sẽ mất luôn cả tự do của chính chúng ta

Hãy hôn tạm biệt anh và nhớ viết thư cho anh khi anh đi rồi

Tạm biệt người yêu của anh, xin chào Việt Nam”

Có thể nghe cả toàn bài hát “Hello Vietnam” do Johnny Wright trình bày ở đây http://youtu.be/DQFWAIFzoZ4

Thế thì còn tình cảm, tâm tư của những người lính và người dân thường ở hai Miền vào lúc đó thì như thế nào? Họ có những mơ ước và suy tư gì về cuộc chiến tranh đang diễn ra?

Từ nhỏ, tôi được nghe những bài nhạc vàng do gia đình mở hàng ngày, những bài hát mà khi lớn lên, cho đến ngày hôm nay, chúng đã đi sâu và tâm hồn và những suy nghĩ của tôi tự lúc nào. Những bài hát về tâm tư của những người lính, người dân sống ở miền Nam trong chiến tranh. Ai cũng hy vọng, một ngày nào đó, cuộc chiến tranh nồi da xáo thịt sẽ mau chóng chấm dứt trên đất nước này, để không ai phải hy sinh hay mất mát người thân nữa. Một trong đó là bài hát “Khúc hát ân tình” hay còn được gọi là “Tình Bắc duyên Nam” của nhạc sĩ Xuân Tiên, trong đó có đoạn mà tôi rất thích:

“Ngày mai hạnh phúc nơi nơi reo cười

Quê hương thôi đau sầu ngăn sông núi cách chia,

Ta đem yêu thương về cho Phương Bắc…”

Vậy thì tâm tư của những người thuộc chiến tuyến miền Bắc ngày xưa thì sao? Tôi đã từng đọc câu chuyện ngậm ngùi về một người lính miền Bắc mang một hũ mỡ heo vào Nam, định tặng bà con vì nghĩ miền Nam đói khổ, rên xiết, lầm than dưới tay đế quốc. Và trong một dịp tình cờ, tôi may mắn bắt gặp hình ảnh dưới đây trong một nhà hàng ở quận 1 cách đây vài hôm. Xin chia sẻ đến mọi người, coi như miêu tả ngắn gọn của cá nhân tôi về tình cảm có lẽ chân thành, và thật nhất từ những người lính, người dân thường ở chiến tuyến Miền Bắc.

944554_595711720438976_541324753_n

 

 

Trong chúng ta, ai đó cũng từng một lần nào đó được nghe nhiều người cho rằng, Miền Nam đánh cho Mỹ, còn đích thân nguyên Tổng Bí Thư Lê Duẩn cũng từng tuyên bố “Chúng ta đánh, là đánh cho Liên Xô, cho Trung Quốc”. Có lẽ hầu hết những người nằm xuống, bản thân của họ đâu biết rằng, họ cũng chỉ là nạn nhân của những “ý thức hệ” xa lạ nào đó trên Thế Giới, đột nhiên một ngàyđược một nhóm người nào đó, đem vào đất nước Việt Nam rồi gây ra biết bao nhiêu hậu quả đau thương kinh hoàng cho những người dân vô tội. Mà hậu quả gây ra vẫn còn dai dẳng cho đến ngày hôm nay bằng sự chia rẽ, thù hận giữa những người cùng nói chung một tiếng nói, và thậm chí giết hại, chửi rủa lẫn nhau không thương tiếc, có khi một cách rất vô thức.

Nước Việt Nam trong mắt các nước phát triển là một trong những nước đói nghèo, lạc hậu nhất trên Thế Giới, nhưng những người như chúng ta chưa bao giờ nhận ra được, bởi vì chúng ta còn bận cãi nhau, chửi nhau, rủa xả nhau hàng ngày, nên những thứ khác có còn quan trọng nữa đâu?

Có thể đưa ra một nhận xét bi quan rằng, nếu cứ tiếp tục như thế này mãi mãi, thì chúng ta sẽ CHẲNG đi về đâu cả trên Thế Giới này cả, bởi vì đơn giản rằng “Nếu không có sự yêu thương lẫn nhau, thì đừng bao giờ mong sẽ có tương lại chung”

 

Sài Gòn 08/05/2013

Nguồn : Facebook Kelly Vo

Đăng trong Uncategorized | 4 phản hồi »

Viết cho những ngày cuối tháng 4…

Posted by LTDA on Tháng Năm 4, 2013

thumb

 

Tôi là người thuộc thế hệ sinh ra sau năm 1975, gia đình tôi không liên quan gì đến VNCH hay CS, mà chỉ là một gia đình bình thường giống như hàng trăm gia đình khác trên đất nước này. Và đây chỉ là những dòng suy nghĩ của riêng tôi, một người thuộc thế hệ trẻ đang sống trên mảnh đất Việt Nam.

Đã bao nhiêu năm rồi, đã bao nhiêu năm từ ngày đất nước thống nhất nối liền 3 dải. Nhưng sao mà những đau thương, hận thù vẫn cứ mãi gợi lên trước mắt thế hệ trẻ như chúng tôi hàng ngày? Tôi may mắn khi không sinh ra vào thời đất nước chiến tranh, những câu chuyện về chiến tranh tôi chỉ được nghe lại từ ông bà, cha mẹ, chú bác hoặc anh chị, cũng như đọc được từ những tài liệu và hình ảnh trên mạng. Chắc chắn tôi không thể nào cảm nhận được hết nổi đau mà những thế hệ trước đã trải qua. Nhưng những gì mà tôi, một người thuộc thế hệ trẻ thấy cho đến ngày hôm nay thì rất là khó hiểu và kỳ cục.

Ngày còn ngồi ở mái trường trung học, trong đó có môn Lịch Sử, tôi được học nào là những “chiến thắng” oai hùng, vĩ đại chống Mỹ, chống “Ngụy quân”, Ngụy quyền, trong đó là những số liệu đã giết được bao nhiêu Ngụy quân, Ngụy quyền. Lúc đó, tôi không hiểu cụm từ Ngụy nghĩa là gì, nên chỉ học thuộc bài để lên lớp thôi, nhưng khi trưởng thành rồi , sau khi tìm hiểu thì mới biết được, Ngụy ở đây là những người sống trên mảnh đất miền Nam ngày xưa, nói chung một thứ tiếng, chia sẻ chung nhiều văn hóa với những người sống ở miền Bắc. Cái “Chiến thắng” ấy có được bằng cách giết những người nói chung tiếng nói với mình. Thế quả thật nếu có cái gọi là “chiến thắng” ấy, thì chiến bại ở đây sẽ là những ai và là những gì? Có phải chiến bại này là chiến bại của tất cả người dân hay không? Chiến bại ấy phải trả giá bằng những cái chết, nhưng chia lìa, đau thương, thù hận, chia rẽ và hàng vạn những thứ khác. Bản thân tôi thì không thể nào ăn mừng cái “chiến thắng” ấy được,và tôi cũng muốn hỏi bạn một câu, nếu là bạn, bạn có nỡ nào ăn mừng “chiến thắng” ấy hay không?

Thế thì, xin những người ở thế hệ trước đừng tiếp tục gieo vào đầu những thế hệ trẻ như chúng tôi sự thù hận,chia rẽ nữa. Hòa hợp, hòa giải là gì?? Trong khi những hậu quả đó nó ảnh hưởng lên bọn trẻ như chúng tôi, bằng chứng là những câu như “phản động”, “tác chiến” “đánh mạnh”, “tiêu diệt” được phát ra dễ dàng từ những bạn trẻ ở thế hệ tôi, mặc dù tôi biết rất nhiều bạn ấy vẫn chưa hiểu hết ý nghĩa của cuộc chiến đã qua. Có một lần tôi đọc được một bình luận của một bạn trẻ trên Facebook với avatar là lá cờ đỏ,bạn ấy nói rằng “tao mà gặp được mày ở đâu, tao sẽ lấy súng bắn ngay vào đầu mày” tôi không thể tin được khi nghe được câu nói đó, thế hệ trẻ như chúng tôi,không được dạy phải yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau, mà được truyền vào đầu những câu nói như “tao sẽ lấy súng bắn ngay vào đầu mày” Có phải bạo lực xã hội ở Việt Nam bắt nguồn từ đây không?

Đất nước Việt Nam đã trải qua bao nhiêu đau thương, tương tàn, cuộc sống người dân càng ngày càng khổ thế mà sự thù hằn, sự chia rẽ vẫn còn tiếp diễn và càng ngày càng kinh khủng hơn.Có nhiều bạn bảo là treo cờ là yêu nước, thế các bạn biết yêu nước thật sự là như thế nào không? Theo tôi, nó đơn giản lắm, yêu nước đó là yêu những con người trong cái đất nước đó, cùng góp sức lực, trí tuệ, khả năng để phát triển cộng đồng người dân trong cái đất nước ấy, chứ không phải chỉ treo cờ là yêu nước, và không treo cờ là không yêu nước. Nếu như thế, tôi có thể chạy ra mua hàng trăm lá cờ để treo khắp nhà và nói với các bạn rằng, tôi là người yêu nước nhất, yêu nhiều hơn các bạn, thì các bạn nghĩ sao?

Đừng nhìn vào những tòa nhà chọc trời mới mọc mà nghĩ rằng đất nước này đang giàu lên, mà hãy chịu khó đọc những báo cáo của các tổ chức Thế Giới khi đánh giá đất nước Việt Nam nằm ở diện nào trên Thế Giới, bao nhiêu tiền và bao nhiều lần ngửa tay ra xin viện trợ từ các nước phát triển, nợ nước ngoài tổng cộng là bao nhiêu, hệ thống giáo dục ở Việt Nam được xếp vào hạng mấy trên Thế Giới, đời sống người dân ra sao, tâm lý, xã hội phát triển theo hướng nào, những phụ nữ bị bán đi làm nô lệ tình dục,những em bé buộc phải nghỉ học mà đi lang thang, buôn bán lề đường, rừng bị chặt phá, biển bị mất, v,v…Đó mới là những hình ảnh THẬT SỰ của nước Việt Nam đấy.

Tôi biết Tháng 4 là tháng nhiều kỷ niệm và hình ảnh đối với nhiều người, nhưng tôi hy vọng là bắt đầu từ tháng 4 này và trở về sau, tháng 4 sẽ chỉ là tháng bình thường trong năm, mà ở đó người dân trong và ngoài nước không còn thù hận, chửi rủa, xát muối vào vết thương lẫn nhau, sẽ là một tháng trong năm như những tháng khác, tháng của những yêu thương, sự giúp đỡ lẫn nhau để phát triển xã hội lành mạnh hơn, nhân văn hơn. Để rồi con cháu và thế hệ sau ta sẽ không phải thốt ra câu nói “tao sẽ lấy súng bắn ngay vào đầu mày” nữa.
Hy vọng!

Sài Gòn 26/04/2013

Nguồn : Facebook Kelly Vo

Đăng trong Uncategorized | 4 phản hồi »

NGƯỜI TÙ

Posted by LTDA on Tháng Năm 1, 2013

Fb Võ Lão Nông

Trao trả tù binh năm 1973

“Dì Sáu tôi có nghề thiến heo,
Thiến chưa rồi đứt chỉ chết queo”
Hồi ấy mấy anh em tôi thường hay núp sau cánh cửa hô lên đồng thanh như vậy khi thấy dì Sáu Bèo xuất hiện ngoài đường với tiếng kèn thiến heo vang lên từ tay dì những tiếng tít te . . . tít te . . . Có lần bà ngoại tôi xách chổi chà rượt chúng tôi: Đồ con nít quỷ, nói hỗn không sợ dì Sáu bây buồn.

Nhưng dì Sáu tôi không buồn, dì gỡ cây chổi trên tay ngoại tôi rồi nhìn chúng tôi cười, nụ cười ngọt ngào và đôn hậu. Dì ngồi xuống bộ ván gõ, nêm cho ngoại tôi mấy miếng trầu, nói vài câu chuyện rồi lại ra đi, tiếng kèn tít te, tít te lại vang lên trong xóm. Dì thường mặc bộ bà ba đen, đội nón lá, tóc bới tròn như trái cam,chân đi dép Nhật, dáng đi nhanh nhẹn, gọn gàng. Tay phải cầm chiếc kèn cứ bóp lia bóp lịa. Tít te, tít te. Trên vai dì quảy cái túi nải nhỏ, trong đó có mấy món đồ nghề gồm dao mổ, thuốc sát trùng, kim, chỉ khâu, tiền bạc và vài món tư trang. Khi có ai gọi thiến heo Sáu ơi thì dì ghé vào, chỉ trong tích tắc, con heo la lên vài tiếng thất thanh là mọi việc đã xong. Dì nhét tiền vào túi nải rồi lại ra đi, những tiếng kèn lại vang lên trong xóm. Hồi ấy dì khoảng bốn mươi tuổi.

Một lần tình cờ nghe những mẩu đối thoại thì thầm giữa dì với mẹ tôi trong nhà bếp, tôi mới biết dì Sáu tôi chính là Việt cộng nằm vùng. Còn dượng Sáu tôi thì đang ở tù ngoài Phú Quốc.Từ đó tôi không còn trêu chọc dì bằng những câu hát đồng dao nữa.

Và khi lớn lên, đi góp nhặt những mẩu chuyện đời qua những tiệc tùng trong họ hàng thân tộc, tôi đã chép lại thành câu chuyện sau đây.

Dì Sáu tôi tên thật là Dương Thị Cư, nhưng không nghe ai gọi dì là Sáu Cư mà chỉ gọi là Sáu Bèo. Cái tên cúng cơm ấy đã gắn cuộc đời dì như bọt bèo sông nước. Dì với mẹ tôi là chị em con cô con cậu, dì vai chị nhưng nhỏ hơn mẹ tôi năm tuổi. Trong thân tộc tôi có ít nhất là ba mươi người đàn bà mang nỗi bất hạnh của chiến tranh, như mẹ tôi chẳng hạn, mẹ tôi bị mất đi người chồng và hai người con trai lớn .Mỗi gia đình có một câu chuyện bi kịch khác nhau, nhưng câu chuyện gia đình dì Sáu Bèo cứ ám ảnh tôi nhiều nhất. Theo mẹ tôi kể, dì lấy chồng hồi năm hai mươi tuổi,không hiểu duyên số nào sắp đặt mà cả hai vợ chồng lại cùng thứ cùng tên – ông Sáu Cư, Tạ Vĩnh Cư. Đám cưới chưa được bao lâu thì dượng Sáu tôi đi tập kết.Trong những thước phim tư liệu quay cái cảnh chia ly đầy nước mắt ở bến sông Ông Đốc có hình ảnh dì Sáu tôi úp mặt rung rung trên chiếc khăn rằn.

Trong thời kỳ hoạt động bí mật, dì làm cán bộ giao liên văn phòng liên tỉnh ủy miền Tây. Nhiệm vụ chính của dì lúc bấy giờ là chèo ghe đưa ông Tư Bình – tức ông Vũ Đình Liệu, bí thư liên tỉnh – đi hoạt động công khai trong vùng kềm của đối phương từ sông Hậu,Ngã Bảy đến Cà Mau, Rạch Gốc, Ông Trang . . . Ông Tư Bình đóng vai ông thầy thuốc Bắc, trong ghe có đủ các loại thuốc thang và cao-đơn-hoàn-tán. Dì Sáu tôi nhỏ hơn ông gần hai mươi tuổi nên không biết đóng vai gì cho phù hợp, vai vợ thì quá nhỏ, vai con thì quá lớn. Cuối cùng hai người nghĩ ra cách, hễ gặp giặc thì dì nói dì là em vợ đi rước anh rể về trị bệnh cho bà nội. Nhiều lần đi qua đồn giặc, lính đồn gọi ông Tư Bình lại nhờ khám bệnh, ông giả vờ khám rồi đoán mò và hốt cho họ vài thang thuốc, căn dặn đôi điều như một ông thầy chuyên nghiệp rồi lại ra đi, những người  lính rối rít cảm ơn.

Khi Đường lối Cách mạng miền Nam ra đời, dì Sáu Bèo được giao nhiệm vụ vận chuyển tài liệu cho các cơ sở Đảng trong vùng tạm chiếm. Dì nghĩ ra cách giấu tài liệu trong những đòn bánh tét giả rồi để chung với các loại bánh thật cùng với trái cây, nhang đèn như một người đi đám cúng cơm. Cứ thế, Đường lối Cách mạng miền Nam được dì chở đi khắp các cơ sở Đảng trong vùng để góp phần làm nên ngày Đồng khởi. Có lần đi qua Khâu Bè – Giáp Nước, gặp lính sư đoàn 21, họ cặp xuồng lại chọc ghẹo và lấy bánh ăn, dì với cô Ba Lộc và cô Năm Nga đã lanh trí ứng xử bằng cách ném các loại bánh khác cho họ và giựt những đòn bánh tét trở lại, dì nói với họ: Con rễ gì mà hỗn quá, bánh nầy chưa cúng ông bà, không có được ăn, rồi dì xô xuồng ra,rủ họ chèo đua với điều kiện là các anh chèo kịp em thì tụi em sẵn sàng làm vợ.Nhờ mưu kế ấy mà những đòn bánh tét không lọt vào tay giặc. Ba người lách sang một cua quẹo rồi nhảy lên bờ, ôm tài liệu chạy vô rừng. Bọn lính nghi ngờ bắn theo mấy phát súng rồi thôi.

Năm 1962, dì Sáu tôi chuyển sang làm công tác kinh tài của tỉnh Cà Mau cũng là lúc vợ chồng dì sum họp. Ông Sáu Cư vượt Trường Sơn về Nam với cấp hàm thượng úy, ông được bổ nhiệm làm tiểu đoàn phó Tiểu đoàn U Minh II. Ông Sáu Cư là một sĩ quan phong độ, lại có tài đánh trận, ông chỉ huy trận nào là thắng gọn trận đó, quân lực lại ít hy sinh, vì vậy mà ông sớm nổi tiếng và được nhiều người ngưỡng mộ. Chẳng bao lâu,ông được thăng chức lên phó ban, rồi trưởng ban tác chiến của Tỉnh đội Cà Mau.Tuy nhiên, bên cạnh cái tài đánh trận, ông Sáu Cư lại là con người độc đoán và cao ngạo, dường như ông chẳng biết nể nang ai dù là những người đang ở những cương vị bắt buộc ông phải tuân thủ phục tùng.

Cuối năm 1967, tại căn cứ Xẻo Lá, ông TH – một trong những người lãnh đạo của tỉnh mà tác giả xin miễn nêu tên – đang triển khai kế hoạch tổng tấn công thị xã Cà Mau vào dịp Tết Mậu Thân, cả hội trường đang im lặng lắng nghe thì bất thần Sáu Cư đứng lên hỏi:Xin đồng chí cho biết mục tiêu của trận đánh nầy là gì để tôi lập phương án tác chiến cho phù hợp. Nếu đánh để chiếm Cà Mau thì phương án khác, còn đánh để làm suy yếu kẻ thù rồi rút lui thì sẽ có phương án khác chớ không thể nói chung chung mà không có mục tiêu được. Bị hỏi bất ngờ, ông TH chỉ tay vào mặt Sáu Cư nói: Tôi bảo đánh là đánh chớ không được hỏi lại. Sáu Cư nói: Con c… , vậy thì anh chỉ huy đánh đi! Nói xong, Sáu Cư bỏ ra ngoài, cả hội trường ngơ ngác.

Sau cuộc họp ấy, ông bị đưa vào trại kỷ luật của tỉnh đội.

Ở đây tôi không bàn về chuyện Mậu Thân, vì đó là công việc của các nhà làm sử. Tuy nhiên, thắng hay bại của từng trận đánh là điều bình thường của chiến tranh. Nhưng điều phiền hà cho Sáu Cư là sau Tết Mậu Thân, người ta trút cơn giận lên đầu ông, người ta cho rằng ông là CIA nên mới để cho kẻ thù phá vỡ kế hoạch của từng cánh quân giải phóng. Thế là Sáu Cư bị giải từ trại kỷ luật sang trại tù binh ngụy ở Kiến Vàng.

Dù là vô tình hay cố ý,cái tin ông Sáu Cư làm tình báo CIA bị bắt giam cứ ngày một rộng ra làm cho chính quyền Sài Gòn và quân đội Mỹ hiểu rằng có một nhân viên CIA bị Việt cộng bắt giam cần phải ra tay giải thoát.

Tháng 3 năm 1969, một tiểu đoàn biệt kích Mỹ được trang bị trực thăng và tàu chiến, nửa đêm đột nhập vào trại tù binh Kiến Vàng để giải tỏa cho Sáu Cư. Viên chỉ huy bước vào trại giam lễ phép hỏi: Xin lỗi các chiến hữu, ở đây ai tên là Tạ Vĩnh Cư ? Sau khi Sáu Cư lên tiếng, hắn nói: Xin chào ông, chúng tôi đến đây để giải thoát cho ông, bắt đầu từ bây giờ, ông sẽ được đối xử theo luật quốc tế, xin mời ông xuống tàu cùng đi với chúng tôi. Còn tất cả các chiến hữu hãy lên trực thăng để về vùng tự do.

Sáu Cư ngơ ngác theo họ  xuống tàu, chiếc tàu chiến được trực thăng bảo vệ bằng róc-két phóng rạp hai bên bờ sông cho đến khi về tới chi khu Hải Yến.Sáu Cư được họ đưa lên đó tắm rửa, thay quần áo, nghỉ ngơi, ăn uống hai ngày như thượng khách. Sáng ngày thứ ba, họ đưa ông xuống tàu ra Cà Mau, đến ở trong một căn phòng sang trọng tại trung tâm quân sự Cao Thắng. Suốt cả tuần lễ ở đây,những sĩ quan VNCH cứ dạ dạ vâng vâng tận tình phục vụ ông như một người khách quý mà chẳng hề hỏi ông một câu nào gọi là có ý khai thác. Một hôm, có một viên sĩ quan cấp tá đến báo tin cho ông biết rằng ông sắp được chuyển về Sài Gòn và hỏi ông có cần gặp vợ con không, ông nói rằng ông rất muốn gặp, y  hứa rằng y sẽ cố gắng giúp ông.

Về phần dì Sáu tôi, sau khi chồng bị giam vào trại tù binh Kiến Vàng, dì được tổ chức phân công ra hoạt động hợp pháp ở Cà Mau. Nhưng thật ra đó là một giải pháp để người ta đưa dì ra khỏi vùng căn cứ bởi vì hoạt động nội thành mà không có liên lạc được với ai.Buồn chán, dì ẳm đứa con trai đầu lòng mới lên hai tuổi về quê cất nhà ở vùng ven thị xã. Khi nghe tin trại giam Kiến Vàng bị giải tỏa, dượng Sáu tôi được đưa về trung tâm Cao Thắng, dù không biết thực hư như thế nào, dì cũng cố dò la tin tức và tìm mọi cách đến thăm. Một sự trùng hợp ngẫu nhiên là lúc dì tìm đến thăm cũng là lúc những sĩ quan ở đây cũng đang tìm mọi cách để giúp ngài Sáu Cư gặp vợ con. Thế là, để chúc mừng cho cuộc hội ngộ nầy, một viên sĩ quan đã chụp tặng vợ chồng ông một bức ảnh.

Cuộc gặp gỡ cũng chẳng lý giải được điều gì, cả hai người cũng nhận định rằng đây là một sự hiểu lầm nào đó của cả bên địch lẫn bên ta.

Mấy ngày sau, ông được đưa lên máy bay về Sài Gòn, lại được đối xử đàng hoàng như thượng khách. Ông cũng chẳng biết nơi ấy là đâu. Một hôm, có một viên đại tá đến chào ông,anh ta tự xưng là Tổng cục phó tình báo Việt Nam Cộng hoà. Cuộc thẩm vấn bắt đầu, ông không thể nào hiểu nổi những điều mà họ đặt ra. Ví dụ như họ hỏi ông cộng tác với CIA từ lúc nào? Người ông trực tiếp quan hệ là ai? Đến lúc nầy cả hai mới ngớ ra. Ông thì ngớ ra rằng họ đã lầm ông với một người cùng tên nào đó. Còn họ thì ngớ ra rằng họ đã uổng công với một tên Việt cộng nòi khi ông đãnói rõ về thân thế của ông. Song, sau vài phút ngớ người, anh ta thấy rằng đây là một miếng mồi ngon nên chuyển ông sang Trung tâm chiêu hồi để dụ dỗ. Ngày sau ông được tiếp xúc với một viên sĩ quan tâm lý chiến thuộc loại cáo già. Gã nói rằng Cộng sản đã đối xử với ông như thế thì không có lý do gì ông không quay lại trả thù, rằng nếu ông chịu hợp tác thì gã sẽ thăng cho ông vượt lên hai cấp, nghĩa là từ thượng úy lên hàm thiếu tá, chức vụ tiểu đoàn trưởng. Gã sẽ cấp cho ông một tiểu đoàn tinh nhuệ nhất với đầy đủ phương tiện khí giới để ông kéo quân về dưới mà tha hồ trả thù những kẻ đã ám hại ông . . .

Sáu Cư hẹn trả lời gã trong ba ngày.

Suốt ba ngày ấy ông có đủ thời gian suy nghĩ. Ông căm giận những người đã hại ông lắm chớ! Nhưng vì họ mà đứng về phía giặc để trả thù thì mình trả thù ai đây? Đảng của mình, đồng bào mình, bà con làng xóm mình, vợ mình, con mình. . . tất cả là của mình.Không thể vì sự căm giận nhỏ nhen mà quay lưng với tất cả.

 Ba ngày sau, ông trả lời với gã rằng ông chán cảnh đánh nhau, ông muốn trở về làm một người nông dân để được sống an nhàn với vợ con. Gã gia hạn cho ông suy nghĩ thêm một tuần. Và một tuần sau ông cũng trả lời như thế. Gã doạ  nhốt ông, ông cũng trả lời như thế.Ngày sau, họ đưa ông lên chiếc xe tù và giải ông xuống Cần Thơ. Ở trại giam Cần Thơ sáu tháng, họ đày ông ra Phú Quốc.

Năm 1973, ông được trao trả tù binh theo Hiệp định Paris.Nhưng khổ thay, những người bạn tù của ông thì còn đường tìm về đồng đội cũ,còn ông thì biết tìm ai?

 Ông tìm về với vợ con.Dì Sáu tôi ngày ngày với chiếc kèn tít te tít te đi thiến heo khắp đầu làng cuối xóm. Ông lặng lẽ ở nhà với tâm trạng ngổn ngang. Ông giữ cái THẺ CĂN CƯỚC TÙ BINH CỘNG SẢN  của Bộ Quốc phòng VNCHvới hy vọng một ngày nào đó gặp lại những đồng đội cũ, may ra nó chứng minh được thân phận của mình để cùng nhau xếp lại quá khứ mà vươn đến tương lai.Nhưng rồi hai năm sau, ngày chiến tranh kết thúc thì cũng là ngày ông bị đưa đi cải tạo cùng với những sĩ quan quân đội Sài Gòn! Dì Sáu tôi chạy đi khóc lóc kêu oan khắp nơi, kể cả những người lãnh đạo cũ, người ta nói rằng đây là chuyện bí mật của ngành an ninh, cần phải có thời gian điều tra làm rõ. Mấy năm đầu ông bị giam trong khu chấp pháp, một nhà tù của chế độ cũ ở gần trường học phường Năm, lúc ấy thằng Dũng con trai ông đã học lớp bốn, lớp năm tại trường nầy. Thỉnh thoảng tôi nhìn thấy nó vào những buổi chiều tan học, nó đứng miết ngoài hàng rào kẽm gai nhìn vô nhà giam mà nước mắt nó rưng rưng. Chị Huỳnh Thanh Hương – một người bà con xa với tôi – là giáo viên dạy lớp Năm của Dũng nhiều lần nhìn thấy Dũng đứng lặng như thế khi chị đạp xe về muộn, con đường đã vắng bóng học trò, chị dừng lại hỏi thì Dũng chỉ khóc. Hôm sau chị đến trường mở lý lịch Dũng ra xem thì chỉ thấy một dòng ngắn gọn: Cha Tạ Vĩnh Cư,đang học tập cải tạo không rõ lý do. Chị đem chuyện ấy hỏi tôi, tôi kể cho chị nghe, chị đã khóc. Từ đó, chị dành hết tình cảm cho Dũng, những buổi chiều về thấy Dũng đứng ngoài hàng rào trại giam như thế thì chị dừng xe lại dỗ dành và đưa Dũng về nhà. Sau khi trại giam Cây Gừa ở Bạc Liêu được xây dựng, ông Sáu Cư được chuyển về đó mấy năm. Đến năm 1982, ông được thả về với cái giấy tạm tha.Tạm tha cũng có nghĩa là sẽ bị bắt lại, người cai tù nói với ông như thế để ông đừng hòng kiện cáo. Mà ông nào có kiện cáo với ai, gần mười lăm năm ông như quả bóng chuyền của hai đối phương cứ ném qua ném lại hai bên giềng lưới, cuối cùng ông bị giăng ra lề sân cỏ khi thân phận đã nhão nhừ. Ông bị bệnh tê thấp, bị phù thủng khắp người, tinh thần cũng không còn để đi tìm chân lý. Một lần ông tìm ra Tỉnh đội để hỏi Bộ chỉ huy về tình cảnh của mình. Người ta hứa với ông rằng chuyện của ông rồi sẽ được minh oan, mọi quyền lợi rồi sẽ được phục hồi trở lại, tạm thời ông hãy yên tâm về nhà dưỡng bệnh. Sau đó người ta viết cho ông cái giấy giới thiệu về địa phương nói rằng ông là bộ đội phục viên, trong thời gian chờ đợi giải quyết chính sách, yêu cầu chính quyền địa phương tạo điều kiện thuận lợi cho ông sinh sống.

 Cái nghề thiến heo không còn nuôi sống được gia đình, dì Sáu tôi chuyển sang làm vườn, trồng chuối,xê-ri và các loại rau cải hàng ngày mang ra chợ bán. Ông Sáu Cư vừa hết chứng phù thủng thì chuyển sang tai biến mạch máu não, nằm liệt mấy năm trời. Dì Sáu tôi phải vừa nuôi bệnh, nuôi thằng Dũng học hành, cuộc mưu sinh gói tròn trong những thúng rau. Quỷ thời gian không đủ để lo cho hiện tại thì lấy gì để lo cho những chuyện đã qua, mà lại là những chuyện ngoài sức vóc của một người đàn bàthiếu chữ nghĩa, sức yếu thế cô. Cuộc sống cứ thế xoay vần, vật đổi sao dời, kẻ trở về với đất, người trở lại đời thường, người khác lo con đường thăng quan tiến chức . . . ai để tâm nhớ đến những lời hứa suông cho qua chuyện – lại là chuyện phiền hà cần phải cố quên. Ngay cả trong họ hàng thân tộc, chuyện của ông Sáu Cư từng là chuyện thời sự trong tiệc rượu, tiệc trà, đám cưới, đám giỗ,đám tang. Nhưng từ khi ông ngã bệnh, không còn lui tới họ hàng, những người giàl ần lượt qua đời hoặc không còn khả năng tụ họp trong những lúc có tiệc tùng thì với đám trẻ chuyện của Sáu Cư đã trở thành chuyện cũ, người ta thích nghe những chuyện mới hơn. Vì thế mà chuyện của ông cũng đi vào quên lãng.

Đầu tháng bảy năm nay,bất chợt tôi vác máy ảnh tìm đến ông sau nhiều năm không gặp. Một căn nhà khiêm tốn nằm trong một khu vườn khiêm tốn ven quốc lộ 1A đoạn nối dài xuống Năm Căn,cách thành phố Cà Mau chừng năm cây số. Ông năm nay đã bảy mươi hai tuổi rồi,già cộng với tai biến cuộc đời, tai biến mạch máu não đã làm cho ông trở thành một con người lụm khụm, không còn nghe thấy gì nữa. Dì Sáu tôi phải dìu ông từ trong buồng ra ngoài với từng bước đi loạng choạng. Thằng Dũng bây giờ đã có vợ hai con, cất nhà ra riêng cặp lộ xe làm nghề sữa đồ điện tử. Tôi hỏi thăm đời sống, dì Sáu tôi nói nhờ nối dài quốc lộ, đất lên giá, dì cắt nền ra bán được vài chục cây vàng, xây lại căn nhà và chừa chút đỉnh dưỡng già, cũng đỡ. Tôi nhìn lên vách thấy có tấm Huân chương kháng chiến hạng Nhì của Chủ tịch nước Trần Đức Lương tặng cho bà Dương Thị Cư vì đã có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Dì lấy cho tôi xem quyển sách truyền thống lịch sử của ngành Giao – Bưu – Vận tỉnh Cà Mau, trong đó có mấy trang kể lại chuyện ngày xưa dìchở ông Vũ Đình Liệu đi hoạt động công khai, chuyện dì vận chuyển Đường lối Cách mạng Miền nam trong đòn bánh tét. Thấy dì đang vui nên tôi không dám hỏi thăm về chuyện cũ, khi mời hai ông bà ra chụp ảnh, tôi chỉ nói dối rằng để dành khi hữu sự.

 Ngay cả khi ngồi viết lại câu chuyện nầy, tôi cũng không có ý đấu tranh để đem lại cho gia đình dì Sáu tôi một sự công bằng, bởi vì điều ấy nếu có thì nó đã có từ lâu. Mười tám năm trước, khi dượng Sáu tôi mới ra tù, tôi còn nghĩ tới điều ấy. Nhưng sau mười tám năm lăn trải với những va chạm trong đời, tôi đã hiểu rằng, cuộc đời có những sai lầm vô phương chữa.

 

Cần Thơ, tháng 7 năm2001

V.Đ.D

 Nguồn : Facebook Võ Đắc Danh

Đăng trong Uncategorized | 5 phản hồi »

 
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.